hồi ký nguyễn đăng mạnh (chương 3)

 

Chương III: Quá trình công tác

1. Những ngày làm việc ở Sở giáo dục Liên Khu Việt Bắc.

Cơ quan của Sở giáo dục Liên Khu Việt Bắc gồm hai ngôi nhà lá dựng

kín đáo dưới những vòm cây, kề bên một cái hang đá, gọi là Hang Giơi, thuộc

xã Dân Chủ, huyện Đồng Bẩm, tỉnh Thái Nguyên. Cán bộ cơ quan phần lớn

thuộc thế hệ cha anh, chú bác của chúng tôi. Tôi còn nhớ lõm bõm: Phó giám

đốc phụ trách phổ thông là anh Thích, phó giám đốc phụ trách bình dân học vụ

và bổ túc văn hoá là anh Đinh Khắc Nhĩ và anh Phan Văn Kim. Cán bộ già có

bác Hạo, bác Nhiệm, bác Nham, trẻ hơn có anh Sính, chị Diệu, anh Nguyễn

Trọng Cổn, anh Lã Hữu Quỳnh…

Tôi không thấy có giám đốc. Sau này về thay

anh Thích là anh Nguyễn Hữu Dụng, và một thời gian sau thấy trên điều về một

ông tên là Phùng, người dân tộc Tày làm giám đốc. Nhưng thực chất điều hành

mọi việc vẫn là anh Dụng. Tất cả đều gọi nhau bằng anh tuốt – cách xưng hô

trong cán bộ thời kháng chiến chống Pháp đều như thế (học trò cũng xưng hô

như thế với các thầy giáo).

Ba chúng tôi thuộc lớp trẻ hơn cả và xem chừng cũng được ưu ái hơn cả

như là những của quý hiếm hồi ấy. Lô đề nghị thành lập một chi đoàn thanh niên

cứu quốc, tuy chỉ có ba người. Tôi được bầu là phó bí thư. Chúng tôi đều chưa

vợ. Buổi chiều tan giờ làm việc hay vào ngày chủ nhật, các cán bộ khác đạp xe

về nhà, bọn tôi chả biết đi đâu, rủ nhau lang thang ngoài đường cái chơi. Trong

một xóm gần đấy có ngôi nhà của một ông giáo tên là Thìn dạy tiểu học, thấp

thoáng thấy có cô con gái chắc là con của ông giáo có dáng một nữ sinh. Cô học

ở đâu đó, ngày chủ nhật mới về nhà. Chúng tôi lảng vảng quanh vùng, rồi kiếm

cớ đến thăm ông giáo để xem mặt. Cô tên là Bảo Ngọc, học cấp hai trường Hàn

Thuyên, Bắc Ninh, sơ tán lên Thái Nguyên. Xem mặt vớ vẩn thế thôi chứ cũng

chẳng có mục đích nghiêm chỉnh gì. Vài chục năm sau, tình cờ tôi gặp lại cô gái

ấy trong một chuyến đi chơi Chùa Hương do trường Đại học sư phạm Hà Nội tổ

chức. Hoá ra Bảo Ngọc về sau học Đại học sư phạm Hà Nội và được giữ lại làm

cán bộ giảng dạy khoa tâm lý. Bảo Ngọc đã mất cách đây vài chục năm do bệnh

ung thư.

Ở Sở giáo dục Việt Bắc, tôi thích trò chuyện nhất với anh Lã Hữu Quỳnh.

Anh có bằng tú tài bản xứ. Tiếng Pháp giỏi. Anh lại là một nhạc sĩ, một cây

violon. Anh có vẻ thích triết học. Tôi kém anh nhiều tuổi, được anh coi là bạn

vong niên. Có lần anh định làm mối cho tôi một cô cháu gái của anh, nhưng việc

không thành. Một hôm tôi đưa ra nhận xét: “Những cái vòi của các cây bí, cây

bầu cứ vừa bò vừa dò dẫm để bắt lấy, quấn lấy những thanh tre bắc trên giàn,

dường như cũng là một thứ sinh vật có cảm giác, có linh hồn vậy”. Anh Quỳnh

nói: “ anh có khuynh hướng về triết học đấy”.

Anh Quỳnh tỏ ý phục chúng tôi, chỉ vì chúng tôi thuộc thế hệ trẻ, thế hệ

của tương lai. Anh cho tôi mượn nhiều cuốn sách rất quý, thường là sách tiếng

Pháp, như Faust của Goethe hay cuốn Nguồn gốc gia đình, tư hữu tài sản và nhà

nước (tiếng Pháp) của Engels. Tôi rất mê cuốn sách này, suốt ngày đọc và ghi

chép. Tư tưởng sâu sắc mà văn cũng rất hay.

Hồi ấy nhiều thư viện ở các thành phố dưới xuôi sơ tán lên Việt Bắc. Họ

chẳng biết chứa vào đâu, bèn tập trung ở cơ quan Sở giáo dục. Dù sao đây cũng

là cơ quan văn hoá, có nhiều trí thức. Họ làm những cái giàn để chứa sách hết

sức sơ sài. Giàn đan bằng tre nứa, tựa bên hang đá. Sách mà để như thế tất nhiên

rất dễ hư nát. Vì thế thỉnh thoảng người ta lại soạn ra những cuốn bị mối mọt

đem đốt. Công việc của tôi hồi ấy rất nhàn rỗi. ấy là thời của bình dân học vụ,

của việc xoá nạn mù chữ và bổ túc văn hóa cho nhân dân, cán bộ. Tôi phụ trách

giáo dục phổ thông nên ít việc. Đã thế lại chưa có vợ con, cha mẹ thì ở xa, hết

giờ làm việc và ngày chủ nhật, thiên hạ tranh thủ về với gia đình cả, tôi và mấy

đứa cùng cảnh ngộ biết làm gì cho hết thì giờ! Thế là lôi sách chất trong những

cái giàn kia ra đọc. Không hiểu sao tôi rất mê cuốn tiểu thuyết Đỏ và đen của

Stendhal, đặc biệt là mê tính cách của nhân vật Julien Sorel. Anh chàng này xuất

thân bình dân nhưng rất thông minh, giàu nghị lực và luôn luôn nuôi chí lớn.

Anh ta muốn nhiều thứ lắm: muốn là con chim đại bàng bay lượn hiên ngang

trên chót đỉnh bầu trời, muốn là một Napoléon thứ hai, muốn là một giám mục

đầy uy quyền, muốn tấn công và chiến thắng giới quý tộc, chinh phục được

những phụ nữ của tầng lớp cao sang nhất: chỉ là một cậu gia sư quèn mà quyết

tự hẹn với mình đúng giờ ấy, phút ấy, phải nắm lấy tay bà thị trưởng De Rênal

để tỏ tình với bà ta, thậm chí dám bắc thang leo lên lầu riêng của một cô gái đại

quý tộc kiêu kỳ, đài các nhất Paris…

ở Sở giáo dục Việt Bắc, tôi được dự một cuộc đấu tố địa chủ đầu tiên ở

Việt Nam. Đây là cuộc thí điểm để rút kinh nghiệm nên chưa đưa ra công khai.

Tổ chức ban đêm. Vì cơ quan chúng tôi đóng ngay tại xã địa phương nên được

tới dự. Người ta cẩn thận bắt nộp danh sách và điểm danh từng người mới cho

vào dự đấu. Tôi nhớ địa chủ tên là Kim, hình như từng là lý trưởng. ông ta già,

để râu dài. Dân quân giải ông ra trường đấu, bắt bò bốn chân như chó, sau đó bắt

quỳ lên một cái bục gỗ .Những bần cố nông được bồi dưỡng từ trước lần lượt ra

đấu. Cách đấu đều theo một công thức chung: trước hết nắm râu địa chủ bắt

ngẩng mặt lên và hỏi: “ Mày có biết tao là ai không?”. Địa chủ trả lời lí nhí điều

gì đó. Người đấu kể tội địa chủ và kết thúc bằng một cú đạp khiến địa chủ ngã

ngửa ra đất. Dân quân lập tức bắt địa chủ quỳ lại như cũ và một cốt cán khác ra

đấu tiếp. Tôi không biết địa chủ Kim (mà đã chắc gì là địa chủ thật) có thể sống

được bao lâu nữa sau cuộc đấu và đạp như thế.

Nhiều trường hợp, qua lời tố khổ, thấy tội của địa chủ chẳng đáng gì.

Chẳng hạn có một bà vốn làm nghề lái đò ngang lên đấu: “ Hôm ấy mày gọi đò,

tao chậm đến, mày chửi mắng tao!”. Thế mà cũng đạp một cái cho địa chủ ngã

ngửa ra đằng sau.

Tôi để ý có vài cán bộ đi lại ở vòng ngoài đấu trường chắc là những người

trực tiếp chỉ đạo cuộc đấu tranh. Tôi nhớ hình như có ông Hoàng Quốc Việt và

bà Hoàng Thị ái thì phải.

36

Cuộc đấu Nguyễn Thị Năm sau này là cuộc đấu công khai đầu tiên. Hôm

ấy tôi cũng được dự. Hàng nghìn người tập trung trong một khu rừng để dự đấu.

Đấu cả ngày nên mọi người phải đem theo cơm nắm để ăn trưa. Lần này địa chủ

không phải bò bốn chân và không phải quỳ nữa, nhưng người ta đào một cái hố,

bắt địa chủ đứng xuống đấy cho thấp hơn nông dân khi đấu tố.

Nguyễn Thị Năm là một điền chủ lớn ở Đồng Bẩm Thái Nguyên. Đồn

điền của bà ta từng là nơi đóng cơ quan Nhà nước và bộ đội ta. Tất nhiên bà ta

đã giúp đỡ nhiều cho cách mạng. Hai con bà là sĩ quan quân đội. Vậy mà bà đã

bị lôi ra đấu và bị xử bắn luôn.

Năm 1952-1953 có thể gọi là mùa chỉnh huấn để chuẩn bị cho cuộc phát

động quần chúng giảm tô và cải cách ruộng đất. Tôi cũng được dự một cuộc

chỉnh huấn tổ chức tại một khu rừng ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Hội

trường căng một khẩu hiệu lớn “ Học tập chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Mao

Trạch Đông, tác phong Hồ Chí Minh”. Chúng tôi được nghe giảng về lý luận

giai cấp, được nghe một số báo cáo điển hình của bần cố nông tố cáo tội ác của

đế quốc, phong kiến. Học xong phải viết thu hoạch và kiểm thảo. Căng thẳng

nhất là thời gian viết kiểm thảo. Để động viên mọi người tự phê bình thành

khẩn, người ta giăng khẩu hiệu khắp nơi: hội trường, phòng ngủ, phòng ăn,

giếng nước… đâu đâu cũng hô hào kiểm thảo thật thà, thành khẩn, nghiêm khắc.

Bản kiểm thảo phải đọc trước nhóm để nghe tập thể bổ sung và phân tích phê

phán. Thôi thì ai nấy đều phải tự bới móc khuyết điểm cho nhiều, chuyện nhỏ

cũng xé ra to để qui kết là có tác hại đến nhân dân, Tổ quốc. Nhóm chỉnh huấn

của chúng tôi gồm: Lã Hữu Quỳnh, nhóm trưởng, nhóm viên có Đặng Thị Hạnh,

Nguyễn Đăng Mạnh và mấy bạn nữa cũng là giáo viên, lâu ngày không nhớ tên.

Chúng tôi học văn, dạy văn nên thường mắc vào tư tưởng gọi là lãng mạn tư

sản, từng say mê tiểu thuyết Tự lực văn đoàn và Thơ mới…vv…

Để bồi dưỡng lập trường giai cấp và lòng căm thù địa chủ phong kiến cho

học viên, nhà trường tổ chức chiếu phim Bạch Mao Nữ. Đến đoạn địa chủ

Hoàng Thế Nhân tỏ ra độc ác quá, bỗng nghe có tiếng ai đó hô lớn: “ Đả đảo địa

chủ phong kiến!”. Rồi chỗ này có người ngất, chỗ kia có người ngất. Y tá nhà

trường chạy đi chạy lại cấp cứu rất vất vả. Lúc ấy tôi tự thấy quá kém về tình

cảm giai cấp, vì chẳng cảm thấy xúc động gì đến nỗi phải ngất xỉu đi như thế.

Có một điều rất lạ là giữa không khí chỉnh huấn nghiêm khắc như thế,

mọi người đều tỏ ra ăn năn, sám hối, muốn rửa ruột, rửa gan, muốn tẩy não cho

sạch như thế mà thỉnh thoảng vẫn xảy ra những vụ mất cắp và hủ hoá ngay trong

đám học viên.

Năm 1953, cuộc kháng chiến ngày càng ác liệt. Trên phổ biến phải đề

phòng địch dùng chiến tranh vi trùng. Bộ y tế cử người đi khắp nơi phổ biến

cách phòng chống chiến tranh vi trùng. Có một lớp học mở ra ở khu Việt Bắc để

huấn luyện cán bộ tuyên truyền. Tôi được cử đi học để về truyền đạt lại cho cán

bộ cơ quan. Sau đó, có một lớp bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ phụ trách

mẫu giáo của các ty giáo dục thuộc mười ba tỉnh trong Liên khu Việt Bắc, tôi

được cử sang đó để nói chuyện về phòng chống chiến tranh vi trùng.ở đây tôi

gặp lại một vài cô giáo cấp một từng được đào tạo ở khu học xá Nam Ninh, như

cô Giang Tiến ( sau này lấy anh Lê Bá Thảo từng là chủ nhiệm khoa địa lý, Đại

học sư phạm Hà Nội).

ở lớp bồi dưỡng này, có một học viên tên là Trần Ngọc Nhị, công tác tại

Quảng Ninh.Trong cơ quan Sở giáo dục Liên khu Việt Bắc có một anh tên là

Tham vốn xưa cũng công tác ở Quảng Ninh, có quen Nhị. Tham bèn làm mối

Nhị cho tôi. Chúng tôi đã gặp gỡ nhau vài lần và xem chừng mọi chuyện đều

suôn sẻ. Kết thúc lớp học, trở về Quảng Ninh, Nhị có viết cho tôi một lá thư, lời

lẽ rất thắm thiết. Nhưng đúng lúc ấy gia đình Nhị bị quy là phản động và tôi

không được phép liên hệ ( chính gia đình tôi tuy đã tản cư lên Thái Nguyên cũng

bị quy là địa chủ. Mỗi lần về thăm bố mẹ tôi đều phải ra công an trình diện và

xin phép.)

Tháng 7 năm 1954, chiến thắng Điện Biên Phủ. Hiệp định Giơnevơ được

ký kết. Miền Bắc được giải phóng.

Mấy tháng sau tôi được cơ quan cử đi dự một cuộc họp của bộ giáo dục ở

Hà Nội. Không khí những ngày hoà bình mới được lặp lại rất phấn khởi. Tôi

nhớ trên chuyến xe hôm ấy về Hà Nội, hành khách đua nhau hò hát suốt dọc

đường.

Hà Nội đẹp quá! Những cô gái áo dài quần lụa trắng trông rất thanh lịch.

Chúng tôi họp ở một ngôi nhà hai tầng ngay bờ hồ Hoàn Kiếm và cũng nghỉ

luôn ở đấy. Đứng trên ban công trông xuống đường phố Hà Nội chạy quanh Hồ

Gươm, thú vị vô cùng. Các giáo chức lưu dung vẫn ăn mặc lịch sự complet,

cravate, giầy da. Còn chúng tôi, cán bộ kháng chiến, thì ăn mặc nhem nhuốc: mũ

lá, áo trấn thủ, dép lốp… Nhưng chẳng ngượng ngịu chút nào, lại còn tỏ ra tự hào

mình là người kháng chiến. Lúc ấy nghèo lại là một giá trị. Giàu là một mối lo.

Ăn mặc sang trọng là học đòi lối sống tư sản. ( về sau này, trong một cuộc hội

thảo về đổi mới tư duy trong giảng dạy văn học tổ chức ở khoa văn Đại học sư

phạm Hà Nội sau đại hội VI của đảng, anh Nguyễn Kiên có cung cấp cho hội

nghị một bài báo cắt ra từ một tờ Quân đội nhân dân(1)

, phê phán một số sĩ quan

quân đội có sinh hoạt tư sản hoá: ngủ màn tuyn, mặc pyjama, bịt răng vàng,

dùng nước hoa… Cả hội nghị cười ồ, quên rằng có một thời quan niệm của cán

bộ ta là như thế).

Chiến tranh chấm dứt, cơ quan Sở giáo dục chuyển về thị xã Thái

Nguyên, đóng ở một nơi ven thị xã gọi là Kép le ( chắc là tên một chủ đồn điền

người Tây từng có trang trại ở đây). Sở được bổ sung nhiều cán bộ mới, trong

đó có mấy cán bộ miền Nam tập kết. Tôi được đề bạt làm trưởng phòng giáo dục

phổ thông.

Hồi ấy có một loạt giáo viên văn cấp ba được đào tạo ở lớp dự bị Đại học

khu bốn, khoá đầu tiên, như Đặng Thanh Lê, Nguyễn Văn Hoàn, Nguyễn Xuân

Nam, Phan Trọng Luận… được điều lên Việt Bắc dạy trường Hàn Thuyên và

Lương Ngọc Quyến. Nhiệm vụ của Sở giáo dục giao cho tôi là phải nắm được

tình hình chuyên môn của các trường phổ thông, đặc biệt là các trường trọng

điểm. Vì thế tôi phải đến dự lớp một số giáo viên, trước hết ở các trường lớn

thuộc tỉnh Thái Nguyên.

Tôi chỉ là một anh giáo viên cấp hai, nhưng lại phải dự lớp và đánh giá

việc giảng dạy của giáo viên cấp ba, tuy họ chỉ tốt nghiệp dự bị Đại học đâu vài

năm gì đó, nhưng từng là học trò của những giáo sư danh tiếng như Đặng Thai

Mai, Trần Văn Giầu, Trương Tửu, Đào Duy Anh, Cao Xuân Huy…vv… thì quả

là đã phải làm một công việc quá sức. Vì thế tôi rất lo lắng. Trước khi dự lớp

nghe giảng một bài nào đó, tôi phải đọc những sách vở có liên quan đề phòng

khi cần, phải đối thoại với các “ông” giáo, “ bà” giáo rất trẻ nhưng kiêu ngạo ra

trò, vì các vị đúng là những trí thức có bằng cấp cao nhất lúc bấy giờ. Tôi nhớ đã

dự lớp Phan Trọng Luận dạy truyện thơ nôm Phan Trần và Đặng Thanh Lê dạy

truyện Kiều. Hồi ấy anh Đỗ Đức Hiểu bị điều từ trường Hùng Vương ( Phú Thọ)

về trường Lương Ngọc Quyến và Hoàng Ngọc Hiến thi chạy trốn cải cách ruộng

đất từ Khu Bốn lên Thái Nguyên. Tôi có dự lớp anh Hiểu dạy kịch LeCid của

Corneille và dự giờ Hiến dạy ca dao,tục ngữ gì đó. Hiến chưa qua đại học. Anh

được “kê” lên làm giáo viên cấp ba nên chỉ được dạy lớp đầu cấp ( lớp Tám).

Hàng năm vào dịp hè, Sở giáo dục thường tổ chức những lớp tập huấn

giáo viên. Trong một cuộc tập huấn giáo huấn giáo viên cấp một, tôi gặp một cô

giáo vốn cũng được đào tạo ở khu học xá Nam Ninh.Cô tên là P.C, dạy học ở

Phổ Yên. Tôi có cảm tình với cô. Chuyện chưa đâu vào đâu, đã dại dột viết thư

tỏ tình nên không được đáp lại.Tôi tự ái, làm bài thơ “Chắc rằng em chưa biết”,

đại ý: anh là người chân thật và không đến nỗi xoàng xĩnh đâu, yêu anh sẽ tìm

được hạnh phúc tuyệt vời đấy. Em coi thường anh chẳng qua là vì chưa biết anh

nên chưa tin đấy thôi:

Chắc rằng em chưa biết

Hay là em chưa tin,

Nên đợi hoài anh chẳng thấy thư em…

Thơ làm xong, tôi gửi cho tuần báo Văn, ai ngờ lại được đăng ( 1957), chỉ

có điều họ xoá đi mất mấy chữ đề tặng P.C ghi ở đầu bài thơ.

Bài thơ này vậy mà đã được phổ nhạc.

Một buổi sáng, vào năm 1980, tôi đang đứng trước cửa phòng thuộc tầng

năm, nhà B2, khu tập thể Đại học sư phạm Hà Nội, thì có một ông trạc bốn

mươi tuổi dắt theo một bé gái đến hỏi tôi: “ Cho tôi hỏi thăm nhà ông Nguyễn

Đăng Mạnh?”. Tôi nói, chính tôi là Nguyễn Đăng Mạnh. Ông khách tự giới

thiệu là Hiền An, nhạc sĩ Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam. Ông cho biết vừa

phổ nhạc một bài thơ của tôi. Tôi ngạc nhiên trả lời: “ Chắc là ông lầm rồi, tôi

có làm thơ bao giờ đâu”. Ông nhạc sĩ nói, đúng là thơ của anh mà! Tôi hỏi, vậy

bài thơ tên gì? Ông ta nói, tên là “ Chắc rằng em chưa biết”. Tôi nhớ ra đúng là

có làm bài thơ ấy thật. Lâu ngày quên mất.

Tôi mời nhạc sĩ vào nhà. Hiền An nói: “ Tối nay, chín giờ anh mở đài ra

nghe phát bài hát lần đầu. Lẽ ra ca sĩ là Ngọc Tân hát, nhưng vì Ngọc Tân vừa

vượt biên ( hụt) nên không được hát trên đài, phải thay bằng tiếng hát của Tiến

Thành. Xin lỗi anh, tôi có sửa vài chữ trong bài thơ cho phù hợp với nhạc, còn

tiền thù lao thì anh một nửa tôi một nửa”.

Lâu ngày rồi, tôi không nhớ số tiền là bao nhiêu, chỉ nhớ là rất rẻ mạt, có

lẽ chỉ tương đương với năm mươi đồng ngày nay.

Nhưng hồi đó tôi túng thiếu quá, đài thu thanh cũng không có. Tôi phải

sang mượn cái đài của anh Đinh Nho Chương ở hàng xóm. Nhưng anh Chương

nói, cái đài của anh hay trục trặc lắm, phải anh đích thân sang sử dụng mới

được.

Thế là tối hôm ấy anh Chương mở đài, tôi, vợ tôi và thằng cháu Thanh,

con trai tôi, ngồi nghe. Đài vặn lên được một lát thì tắc luôn. Anh Chương cuống

quýt chạy về nhà lấy tournevis sang sửa. May sao cái đài lại bật lên được đúng

vào lúc bắt đầu giới thiệu tác giả của nhạc và lời bài hát.

Bài nhạc vừa dứt, thằng con tôi bỗng lăn đùng ra rồi nằm ngửa trên

giường chổng bốn vó lên cười hô hố: “ Thơ của bố không ra gì mà nhạc cũng

chẳng ra sao!”

* *

*

Vào khoảng cuối năm 1954, tôi được trên điều động đi tham gia cải cách

ruộng đất đợt cuối cùng, tức đợt năm. Trước khi xuống xã, chúng tôi phải tập

trung để học về chính sách cải cách ruộng đất. Người ta dựng một loạt lán trại

bằng tre nứa lá trên một khu đồi thuộc tỉnh Phúc yên. Lớp học kéo dài hàng

tháng. Bài học chính là lý luận giai cấp, và đường lối cách mạng của đảng ở

nông thôn ( dựa hẳn vào bần cố nông, đoàn kết với trung nông, cô lập phú nông,

đánh đổ địa chủ. Tuyệt đối không được dựa vào tổ chức cũ, vì đã bị địa chủ và

bọn Quốc dân đảng chui vào lũng đoạn; đặc biệt là phải nắm vững tiêu chuẩn

phân định thành phần giai cấp ở nông thôn cùng với con số tỷ lệ của mỗi giai

cấp, thí dụ 5% hộ dân là địa chủ, 4% là phú nông…vv…).

Học xong phải viết thu hoạch và kiểm thảo về lập trường giai cấp. Sau đó

phiên chế thành đội để đi xuống các xã.

Trong thời gian học tập, lại nghe báo cáo điển hình của bần cố nông, lại

xem phim Bạch Mao Nữ, lại hô đả đảo địa chủ phong kiến, lại ngất xỉu chỗ này

chỗ khác… và lại ăn cắp, hủ hoá…

Đội của tôi được điều về xã Gia Trường, huyện Gia Khánh, tỉnh Ninh

Bình. Đội trưởng tên là Hồng, trông trắng trẻo hiền lành như một thư sinh, đội

phó phụ trách tổ chức tên là Hải, đội phó phụ trách toà án là một bộ đội tên là

Tại. Ngoài ra là những đội viên độ năm sáu người. Tôi chỉ còn nhớ hai nữ, một

tên là Nết, một tên là Huyên và hai nam, một người miền Nam tên là Chánh, một

là bộ đội mù chữ tên Khả.

Xe ô tô đưa chúng tôi đến cách Gia Trường khoảng vài trăm mét thì đỗ

lại, chúng tôi đi bộ vào làng, mỗi người tìm đến một thôn đã được phân công

trước. Thôn tôi phụ trách gọi là Yên Hạ. Lý luận học được là không được dựa

vào tổ chức cũ, không được tin vào bất cứ ai ( phải cảnh giác, ở đâu cũng có

địch hết ). Phải tự mình tìm nghèo hỏi khổ. Tôi đi loanh quanh trong làng một

lúc và phát hiện một gia đình chắc nghèo lắm, ở trong một túp lều rách nát bên

một bờ tre. Tôi liền vào để gợi khổ chủ nhà. Đó là một người đàn ông tuy bộ

dạng tiêu tuỵ, quần áo rách rưới, nhưng nhìn vẻ mặt thấy không có vẻ vui mừng

phấn khởi gì khi được đội đến nhà. Nói năng thì lúng túng, lạnh nhạt, hình như

không muốn bắt chuyện. Chán quá, ngồi một lúc, tôi bỏ đi. Có một người làng

đi qua, ghé tai nói thầm với tôi: “ Nó là địa chủ đấy, địa chủ Thợi bị đuổi ra khỏi

nhà trong phát động giảm tô đấy”. Tôi ngượng quá. Tuy nhiên về sau cũng tìm

được một bần nông thật và đào tạo được thành một cốt cán.

Đi cải cách thì phải ba cùng. Mùa rét phải đi cấy lúa, tuy lúng ta lúng túng

làm có ra gì đâu. Có lần tôi còn bị điều ra một thôn chuyên chài lưới. Trời mùa

đông mà phải đi đánh cá từ nửa đêm, người ta chèo chiếc thuyền nan ra giữa

sông quăng lưới. Giữa lòng thuyền đặt một bếp lửa để sưởi. Lưới kéo về thì ngồi

gỡ cá.

Vì tôi là người được xem là có chữ nghĩa trong đội nên ít lâu sau được gọi

về làm văn phòng đội. Từ đấy không phải ba cùng nữa, ăn uống thì cũng khá

hơn vì có tiêu chuẩn riêng. Văn phòng đóng ở nhà một cốt cán tên là Lờng.

Có một buổi tối, đội trưởng đội phó đi đâu vắng, tôi điều khiển một cuộc

họp xóm ngay tại sân nhà văn phòng đội. Cuộc họp vừa kết thúc, nghĩa là mọi

người vừa giải tán thì tôi được báo cáo có một bà cụ gọi là bà cụ Phẩm vừa ở

đây về, hộc máu chết ngay giữa nhà. Tôi vội chạy đến ngay. Hồi ấy bất cứ xảy

ra chuyện gì có vẻ bất thường một chút là người ta nghĩ ngay đến hoạt động của

địch. Nhà bà cụ khá rộng rãi. Bà ở với một đứa cháu trai tên Phẩm làm du kích.

Tôi vào nhà một mình.( Phải cảnh giác, ngoài đội ra, không ai được vào, vì địch

có thể tới để phá dấu vết gây án.) Tôi thấy từ ngoài sân vào tới nhà đều có máu

và phân của bà cụ. Bà cụ nằm chết ngay trên nền nhà. Khám xác bà cụ, tôi

chẳng phát hiện ra điều gì. ( thí dụ như bị bóp cổ hay bị đổ thuốc độc chẳng hạn)

Mà “ chúng nó”giết bà cụ để làm gì chứ? Tôi lúng túng chẳng biết xử trí ra sao.

Chuyện xảy ra lập tức được thông báo ngay cho ban chỉ huy đội. Anh đội

phó phụ trách toà án vội tới ngay hiện trường. Anh ta hội ý nhanh chóng với một

cán bộ khác cũng là bộ đội, và lệnh bắt giam ngay một chị hàng xóm làm nghề

buôn bán gì đó và có quan hệ với địa chủ Thợi. Họ giao cho tôi tra hỏi chị về vụ

“ bức tử” bà cụ Phẩm. Cuộc tra hỏi truy bức chẳng ăn thua gì. Tôi một mặt thấy

mình bất lực hèn kém quá, chẳng được tích sự gì. Mặt khác lại nghĩ, có lẽ chả có

chuyện gì hết, chẳng qua là bà cụ bị trúng gió độc đấy thôi. Hồi ấy, những loại

người như tôi, gia đình địa chủ, bản thân là tiểu tư sản, thường không tin lắm ở “

lập trường” của bản thân mình. Sau này mới biết, đúng là chẳng có chuyện gì

thật.

Mấy năm sau, trở thành cán bộ giảng dạy ở trường Đại học sư phạm Vinh

( Nghệ An), tôi có lần được giao phụ trách một đoàn sinh viên thực tập ở trường

Lương Văn Tuỵ, tỉnh Ninh Bình. Thực tập làm công tác chủ nhiệm lớp, sinh

viên phải đi thăm học sinh ở các nhà trọ quanh trường. Một lần tôi cùng sinh

viên đến một nhà trọ, ở đó có một học sinh kể chuyện ngày xưa mẹ cậu ta ở thôn

Yên Hạ xã Gia Trường bị bắt và bị truy hỏi về một vụ án nào đấy trong thời kỳ

cải cách ruộng đất. Tôi giật mình. Đúng là người đàn bà bị bắt oan trong vụ bà

cụ Phẩm chết đột tử và chính tôi là người tra hỏi, truy bức. Tôi xấu hổ quá, vội

lảng ngay đi.

Thời gian làm cán bộ văn phòng của đội cải cách ruộng đất, tôi thường

phải lên cơ quan đoàn uỷ nộp báo cáo hoặc lĩnh lương về cho cán bộ đội. Cơ

quan đoàn uỷ đóng ở Kim Sơn, Phát Diệm. Đoàn uỷ phụ trách các đội cải cách

trong tỉnh. Từ Gia Trường đi Phát Diệm, có lần tôi theo đường bộ, có lần nằm

đò dọc. Dọc đường, đâu đâu cũng đấu tố, xã nào cũng có bắn người, vì đâu đâu

cũng có cường hào gian ác và bọn phản động Quốc dân đảng chống phá.

Nhưng riêng xã tôi thì tìm mãi không ra thằng nào gian ác đáng xử bắn.

Đoàn uỷ bèn cử người về chấn chỉnh. Tôi nhớ anh cán bộ đoàn uỷ tập hợp toàn

đội lại ở một chái nhà dân quanh một cái cối giã gạo. Anh ta xỉ vả chúng tôi một

trận thậm tệ: “ Không bắn thằng nào thì quần chúng còn bị nó khống chế, đến

bao giờ mới ngóc đầu lên được! Lập trường giai cấp để dâu? Hữu khuynh

nghiêm trọng! Đảng nuôi cho các anh ăn để ngồi chơi à? Phải kiểm điểm

nghiêm khắc, rồi đi sâu đi sát tìm ra thằng đầu xỏ để bắn!”.

Thế là lãnh đạo đội đêm ngày lo tìm ra thằng đầu xỏ phản động. Họ nghĩ

đến một người tên là Cớt, bí thư chi bộ đảng, và gợi ý mớm lời cho cốt cán phát

hiện ra những hoạt động của bọn Quốc dân đảng đội lốt cộng sản. Lập tức hồ sơ

tội trạng của Cớt ngày càng dầy lên, và bí thư chi bộ cộng sản thành bí thư chi

bộ Quốc dân đảng. Dĩ nhiên là Cớt bị bắt giam và không tránh khỏi sẽ bị xử bắn.

Nhưng phúc đời cho Cớt, cuối đợt cải cách có lệnh sửa sai. Các đội được

triệu tập để nghe ông Hoàng Quốc Việt về nói chuyện. Tất cả tù nhân ở các trại

giam đều được thả ra hết.

Cải cách ruộng đất đúng là một sai lầm nghiêm trọng. Bắt oan, giết oan

hàng vạn người. Mà thật ngu xuẩn. Làm sao địa chủ lại nhiều thế: 5%! Làm sao

mà Quốc dân đảng lại có ở khắp mọi nơi. Đúng là rập khuôn theo Trung Quốc

một cách cực kỳ ngu xuẩn. Quốc dân đảng là đảng chính thống, đảng cầm quyền

ở Trung Quốc hàng bao nhiêu năm mới có lắm quốc dân đảng như thế chứ.

Thực ra trước khi sửa sai, chúng tôi cũng có ngờ ngợ thế nào ấy. Bởi vì thấy

nhiều địa chủ chẳng giầu có gì lắm. Và họ cũng lao động ra trò, cũng biết đi cày

đi cấy. Con cái hiền lành, ngoan ngoãn. Tôi từng được giao triệu tập con cái địa

chủ lại để giáo dục, tôi thấy như thế. Bây giờ sửa sai, thấy sai lầm của cải cách

ruộng đất là chuyện dĩ nhiên và rất dễ hiểu. Nhưng chỉ không hiểu sao thời ấy cả

nước từ trên xuống dưới lại ngu xuẩn đến thế, sai từ đường lối chính sách đến

các biện pháp cụ thể. Phát động quần chúng, mà quần chúng sợ đội quá sợ cọp,

làm sao dám nói trái ý đội. Tôi lúc đó chỉ là một thằng thanh niên ngoài hai

mươi tuổi, vậy mà đi lại trong làng, có những cụ già râu dài, chắp tay vái “ lạy

đội ạ!”. Một chính sách lớn như thế, liên quan đến sinh mạng hàng vạn dân mà

giao phó cho những cốt cán dốt nát thực hiện. Cán bộ đội cũng thế, trong đôi tôi

có một anh tên là Khả mù chữ. Mù chữ mà giảng chính sách và vận dụng chính

sách- một chính sách rất lớn và rất phức tạp- vào việc bắt người, bắn người, tịch

42

thu tài sản của người! Cải cách ruộng đất đúng là một trường hợp điển hình thô

bỉ nhất của vụ cưỡng hiếp của Tầu đối với Việt Nam về chính trị và văn hoá.

Nguyễn Huy Thiệp nói đúng: “ Đặc điểm lớn nhất của xứ sở này là nhược tiểu.

Đây là một cô gái đồng trinh bị nền văn minh Trung Hoa cưỡng hiếp. Cô gái ấy

vừa thích thú, vừa nhục nhã, vừa căm thù nó” ( Vàng lửa). Sau này Đỗ Hoàng

Diệu cũng diễn tả nỗi nhục nhã ấy bằng hình tượng Bóng đè.

Sai lầm cải cách ruộng đất càng nghĩ càng thấy có tác hại sâu sắc và lâu

dài đối với truyền thống tư tưởng, văn hoá của dân tộc. Vô nhân đạo, coi mạng

người như cỏ rác. Mượn cớ căm thù giai cấp để biện minh (justifier) cho cái ác.

Cái ác mà được cho là đúng đắn, là cách mạng thì cái ác tất sẽ được nhân lên

hàng trăm lần. Làm ác mà vẫn yên ổn với lương tâm thì thật vô cùng khủng

khiếp. Cuộc cải cách đã huỷ hoại những truyền thống tinh thần tốt đẹp của gia

đình, họ tộc, làng xã, của văn hoá, phong tục Việt Nam. Đánh địa chủ, phú nông

trong hoàn cảnh bấy giờ vô hình chung là đánh vào giới trí thức, là huỷ hoại văn

hoá, vì ở nông thôn hồi ấy thường những gia đình khá giả trong làng mới có điều

kiện đi học, và có sách vở truyền lại từ tổ tiên, ông cha. Cải cách ruộng đất đốt

hết. Sách chữ Hán, chữ Nôm không đọc được càng phải đốt triệt để. Tôi đã

chứng kiến những cuộc đốt như thế. Sách tiếng Pháp người ta gọi là tài liệu phản

động, sách chữ Hán, chữ Nôm thì cho là văn tự cướp ruộng của nhân dân. Đốt

hết. Anh chủ nhà bị quy là địa chủ ngồi ở góc nhà nhìn đống lửa ở ngoài sân

chắc là tiếc lắm. Anh nói nhỏ với tôi khi tôi đi qua trước mặt: “Đội cho con xin

lại cuốn từ điển tiếng Pháp”. Tôi đã giữ lại cho anh ta cuốn từ điển ấy.

Cải cách ruộng đất còn tạo cơ hội rất thuận lợi cho sự phát triển của chủ

nghĩa cơ hội trong nông dân. Muốn được đội cất nhắc, cứ tha hồ tố oan, tố điêu

cho người… Như trên đã nói, về sai lầm của cải cách ruộng đất, trước khi sửa

sai, chúng tôi đã hơi ngờ ngợ, vì thế mà khi có lệnh sửa sai, lập tức hiểu ngay,

chẳng cần nghe giảng về chính sách sửa sai cũng đã vỡ lẽ rồi.

Tuy nhiên cũng phải nói rằng, dân xã Gia trường đã gặp may. Đội của

chúng tôi cũng mắc sai lầm rất nhiều. Đúng thế. Nhưng không bắn ai, đúng ra là

chưa kịp bắn ai. Vì thế dân làng gọi chúng tôi là “ đội hiền”. Mấy năm sau, nhân

đưa sinh viên Đại học sư phạmVinh đi thực tập ở Ninh Bình, tôi có tạt về thăm

nơi cải cách ngày xưa. Tôi thấy dân làng đón tiếp rất tình cảm, giành nhau mời

về nhà ăn cơm. Nông dân Việt Nam quả là tốt bụng. Họ sẵn sàng bỏ qua mọi tội

lỗi của cán bộ, của đảng. Nhưng xét ra đó cũng là một nhược điểm: ngu muội

quá, an phận quá. Trên nói gì là tin như thế. Bảo đúng là đúng, bảo sai là sai,

bảo căn bản thắng lợi là căn bản thắng lợi. Cải cách ruộng đất vẫn được đánh giá

là “ Căn bản thắng lợi”.

Sau đợt cải cách ruộng đất, đội giải tán, ai về nhà nấy hoặc trở về nơi

công tác của mình. Trước khi trở lại Sở giáo dục Liên khu Việt Bắc, tôi theo

Khả ( anh đội viên mù chữ ) về nhà anh chơi. Nhà anh ở một xóm nhỏ nơi chân

núi Hiên Ngang thuộc huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh. Anh người rất xấu trai, lại

mù chữ, nhưng là bộ đội cụ Hồ nên rất có giá. Tôi gặp ở nhà anh một cô gái tên

là Thiêm khá xinh đẹp. Cô đến anh chơi, có vẻ quyến luyến anh lắm. Khả ở

vùng ngụy, trốn ra vùng tự do để tham gia bộ đội. Nay trở về làng, mặc quân

phục trông cũng oách, lại là đội viên cải cách ruộng đất. Đó là những ánh hào

quang đã che lấp mọi nhược điểm của anh. Cô Thiêm mê là phải. Một tình

huống cảm động. Tôi nẩy ra ý đồ viết một truyện ngắn về Khả và Thiêm. Nhưng

viết không đạt nên bỏ.

2. Những ngày học tập ở Đại học sư phạm Hà Nội.

Tôi tiếp tục công tác ở sở giáo dục Liên khu Việt Bắc khoảng một năm

nữa thì được cử đi học Đại học sư phạm Hà Nội.

Cử đi học nhưng vẫn phải qua kỳ thi tuyển. Tôi rất bất bình. Cán bộ công

tác trong ngành, nay được cử đi học thêm lại còn phải thi. Tôi bèn viết một bức

thư lên Bộ giáo dục phản đối. Lời lẽ có chỗ rất xược: “ Bộ trưởng mà đi thi cũng

có thể trượt, vì công tác lâu ngày quên hết kiến thức rồi còn gì”. Thực ra chúng

tôi sợ nhất: nếu trượt thì rất xấu hổ với cơ quan cử mình đi học. Nhưng thư

không có hồi âm và tôi vẫn phải đi thi. Năm ấy không hiểu sao bộ giáo dục lại

chủ trương hạn chế rất chặt sinh viên đại học sư phạm. Cả khoá chỉ lấy 20 người

( như thế là tuyển 20 trên tổng số 120 người thi ). Thành ra trượt rất nhiều, may

mà tôi lại đỗ. Cả khoá học của chúng tôi như thế là có 20 người trúng tuyển,

cộng với 8 người lưu ban là 28. Hai mươi tám người hầu hết là cán bộ đi học:

Già nhất là Phạm Dư, Quách Hy Dzong, Nguyễn Nghĩa Dân, Lê Hồng Chi, tiếp

đến Hoàng Nhân, Hồ Đình Lư, Đinh Trọng Lạc.ít tuổi hơn nữa là Nguyễn Đăng

Mạnh, Phạm Luận, Đỗ Bình Trị, Vũ Châu Quán, Phan Đình Đài. Trẻ nhất trong

số cán bộ đi học là Thành Thế Thái Bình. Ngoài ra có một số học sinh trúng

tuyển: Loan, Châu (nữ), Châu (nam), Hiển, Tâm, Liên, Chinh, Huân, Tục, Bội…

Tôi gặp lại một số bạn đã từng sống với nhau ở trường sư phạm trung cấp trung

ương ở Chợ Ngọc Tuyên Quang, và ở khu học xá Nam Ninh, Trung Quốc, như

Phạm Luận, Thành Thế Thái Bình, Đỗ Bình Trị ( kiểm lại khoá học này, tính

đến hôm nay, đã có bảy người không còn nữa).

Đi học nên không được hưởng nguyên lương, mỗi tháng chỉ được lĩnh ba

mươi lăm đồng. Chúng tôi bèn kéo nhau lên ban giám hiệu nhà trường đấu

tranh, nhưng chẳng ăn thua gì. Có người gia đình khó khăn quá, hết năm thứ

nhất phải bỏ học, như Phan Đình Đài. Có người đông con quá như Quách Hy

Dzong thì phải tổ chức dạy bổ túc văn hoá cho cán bộ, công nhân để kiếm thêm.

Học phí do học viên đóng rất thấp. Tôi tuy chưa vợ con nhưng cũng tham gia

dạy cho công nhân một xí nghiệp trình độ cấp một, tối nào cũng dạy vậy mà tiền

thù lao cả tháng chỉ tương đương năm mươi nghìn đồng bây giờ. Mỗi lần được

lĩnh tiền thù lao, lại đánh chén một bữa cho bõ lúc thèm khát.

Bọn cán bộ đi học chúng tôi, trong thời gian học, có một lần được nhận

một món tiền truy lĩnh lương. Tôi không nhớ cụ thể lý do được truy lĩnh, chỉ biết

nhờ có món tiền đó mà tôi mới mua được một cái xe đạp cũ ( xe Junior, mua lại

của Đỗ Bình trị ). Đây là lần đầu tiên tôi có xe đạp.

Chúng tôi học đại học ngay sau vụ Nhân văn- Giai phẩm, Đất mới nên có

một số giáo sư đã bị đình chỉ giảng dạy như Trần Đức Thảo, Trương Tửu, Đào

Duy Anh… Chúng tôi chỉ còn được học các thầy Đặng Thai Mai ( dạy Văn học

Trung Quốc ), Nguyễn Mạnh Tường ( dạy Văn học Phương Tây ), Hoàng Xuân

Nhị ( dạy Văn học Nga Xô Viết ), Nguyễn Lương Ngọc dạy lý luận văn học,

Cao Xuân Huy ( dạy tâm lý học ) và một số cán bộ giảng dạy trẻ hơn như Lê

Hoài Nam, Đinh Gia Khánh, Phan Ngọc, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Phan Cảnh,

Nguyễn Đình Chú, Trần Văn Bính, Nguyễn Hải Hà… Sau này có thêm thầy

Nguyễn Lân, thầy Tảo dạy môn giáo dục học và các vị ở Ban tu thư của Bộ giáo

dục chuyển đến. Đây là những giáo viên cấp ba xuất sắc được Bộ triệu về viết

sách giáo khoa phổ thông. Trại tu thư làm xong việc thì giải tán, các vị được

chuyển sang dạy đại học sư phạm ( nhân cùng làm sách giáo khoa, họ tập hợp

nhau lại, lập ra nhóm Lê Quý Đôn viết bộ Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam ).

Đó là các anh Lê Trí Viễn, Vũ Đình Liên, Huỳnh Lý, Đỗ Đức Hiểu, Trương

Chính. Ngoài ra có ông Hoài Thanh, viện phó viện văn học cũng được mời sang

dạy mấy bài về văn học trung đại Việt Nam: Cung oán, Chinh Phụ, Kiều, Hoa

Tiên, Phan Trần. Ngoài ra còn có một vài chuyên gia Liên Xô, Trung Quốc sang

dạy giúp.

Nói chung ít có bài giảng xuất sắc. Nguyễn Mạnh Tường dạy hời hợt,

chẳng thấy hay ho gì. Hoàng Xuân Nhị thì phải nói là dạy rất yếu, cứ chuyện nọ

sọ chuyện kia rất tuỳ tiện, chẳng hạn giờ dạy Goócky lại xoay ra nói về Từ ấy

của Tố Hữu. Thầy Nguyễn Lương Ngọc thì chỉ đọc nguyên văn giáo trình, mà

giáo trình thì cứ rập theo đúng các luận điểm của những Abramovits, Lưu Diễn

Văn, Ba Nhân… Tôi chắc đó là do không khí đấu tranh chống Nhân văn, giai

phẩm lúc bấy giờ còn nóng hổi nên thầy phải cẩn thận không dám có ý kiến

riêng, mà tính thầy thì vốn dĩ rất thận trọng. Cụ Đặng Thai Mai cũng hay nói

chuyện lan man, lạc đề, ít khi dạy đúng vào bài giảng. Thí dụ, dạy Kinh Thi, cụ

lại toàn nói chuyện ngày xưa cụ học chữ Hán như thế nào. ấn tượng đậm nét

nhất về thầy Đặng Thai Mai là trí nhớ tuyệt vời. Cụ có thể đọc thuộc lòng hàng

trang sách tiếng Pháp các vở kịch của Corneille, Racine hay Molière… Cụ Cao

Xuân Huy dạy tâm lý học, tôi rất thích. Cụ thường chứng minh các quy luật tâm

lý bằng việc phân tích tâm lý các nhân vật văn học, như Kiều, LeCid… Tôi nhớ

có lần giảng bài nửa chừng, cụ ngừng lại hỏi học trò: “các anh có hiểu không?”.

Một cậu đứng lên đáp: “ không hiểu”. Cụ nói rất to: “ Đúng rồi, hiểu thế nào

được, khó lắm!”.

Riêng những bài giảng của ông Hoài Thanh thì nói chung hấp dẫn. Ông

chuẩn bị bài giảng rất nghiêm túc và dạy rất nhiệt tình, tỏ ra là một người vừa

yêu văn chương vừa mê nghề dạy học.

Trong khoá học của chúng tôi, nếu có ai đó sau này trở thành người làm

khoa học tốt thì chủ yếu là do tự học. Hồi ấy đại học là một cái gì rất thiêng

liêng, được coi là đỉnh cao của nền văn hoá đất nước. Vậy phải làm sao cho

xứng đáng với danh hiệu sinh viên đại học- Chúng tôi nghĩ thầm trong bụng như

thế, cho nên rất hăm hở, rất hào hứng học tập. Đi thư viện suốt. Đọc đủ cả

Jliade, Odyssée, Shakespeare, V.Hugo, Balzac, Tolstoi qua tiếng Pháp, rồi đọc

thơ Đường, Ly Tao, Tây Sương Ký (bản dịch rất hay của Nhượng Tống), Tam

quốc, Thuỷ hử…vv… Rồi đọc văn học Việt Nam từ trung đại đến hiện đại, từ văn

học dân gian tới văn học viết. Đọc có ghi chép, có phân tích, thậm chí viết thành

bài để có thể thuyết trình trước lớp. Ngoài ra học được gì về phương pháp tư duy

khoa học, lập tức vận dụng ngay trong học tập. Thí dụ, thấy ông Nubarốp trình

bày về một tác giả Xô viết, đi từ tác phẩm ở thời kỳ tài năng phát triển chín nhất

rồi mới quay ngược trở lại tác phẩm đầu tay, tôi thấy rất hay bèn bắt chước,

cũng thử suy nghĩ và trình bầy như thế về Phan Bội Châu…

Khoá chúng tôi học ba năm (1957-1960 ), lúc đầu học chung với đại học

tổng hợp ở giảng đường Lý Thường Kiệt ( ngồi chung một lớp. Tổng hợp, Sư

phạm, mỗi bên ngồi một dẫy bàn.). Đến năm 1958 thì tách riêng hẳn ra. Tổng

hợp ở lại địa điểm cũ, còn Sư phạm thì chuyển về Cầu Giấy, sát nhập với Cao

đẳng sư phạm ở địa điểm của trường hiện nay. Tất nhiên lúc ấy toàn nhà lợp lá,

vách đất.

Kết thúc khoá học, một số sinh viên là cán bộ đi học được giữ lại làm cán

bộ giảng dạy: Quách Hy Dzong, Nguyễn Nghĩa Dân, Hoàng Nhân, Đinh Trọng

Lạc, Phạm Luận, Cù Đình Tú, Trần Gia Linh, Đỗ Bình Trị, Thành Thế Thái

Bình, Nguyễn Xuân Khoa, Nguyễn Đăng Mạnh.

Ba năm học đại học cũng có nhiều chuyện vui, chuyện buồn, chuyện hay

chuyện dở trong cái tập thể hai mươi tám người này.

Bí thư chi bộ tên là Dư, người Miền Nam, có quan hệ luyến ái với một

bạn nữ học khoa Địa lý, bị đưa ra kiểm thảo rất gay gắt. Hồ Đình Lư hay tiếp

xúc với một số bạn quen ngày xưa có dính dáng đến nhóm Nhân văn hay Đất

mới gì đó, bị chi bộ Đảng theo dõi như một phần tử phản động. Lư tuy học giỏi,

nhưng chẳng những không được giữ lại làm cán bộ giảng dạy mà sau khi tốt

nghiệp còn bị chi bộ thông báo với nơi công tác của Lư về tư tưởng, gọi là phản

động của anh và đề nghị hãy khoan không cho lên lớp. Tôi hay chơi với Hồ

Đình Lư, cũng bị nhắc nhở như là quan hệ với địch. Chi uỷ giao cho Định Trọng

Lạc, đảng viên dự bị, đến thông báo với tôi như thế. Thực ra, đó là do Hoàng

Nhân, chi uỷ viên, một tay cơ hội chủ nghĩa hạng nặng vốn đố kỵ với Lư hồi họ

cùng dạy học với nhau ở Nghệ An. Anh ta nhân dịp này ra tay trị Lư.

Có một lần, chúng tôi, mấy thằng chơi thân với nhau góp mỗi người vài

đồng ra Hàng Buồm đánh chén một bữa. Vậy mà cũng bị phê phán là có tư

tưởng hưởng lạc. Hồi ấy trong số cán bộ đi học, tôi và Đỗ Bình Trị bị coi là

thuộc loại phần tử cá biệt, vì ăn nói tự do và có vẻ kiêu ngạo. Hồ Đình Lư thì là

“ địch” hẳn hoi rồi. Mấy anh là học sinh Hà Nội thời tạm chiến thì bị coi như là

những đối tượng phải bồi dưỡng tư tưởng lâu dài. Quách Hy Dzong, Thành Thế

Thái Bình, Trần Gia Linh là những người gần Đảng hơn cả. Trần Gia Linh rất

hăng hái, được giao làm trưởng lớp. Anh em thì gọi là “hồng vệ binh.”

Trong thời gian học Đại học sư phạm Hà Nội, tôi bỗng nhiên được giao

làm một công việc rất bất ngờ và quá sức: trang bị lại toàn bộ phông màn của

sân khấu hội trường Đại học sư phạm Hà Nội. Chuyện lớn lắm và rất khó đối

với tôi: phải lĩnh hàng trăm mét tem phiếu để mua hàng xúc vải đắt tiền như xa

tanh, crếp, nhung để làm riđô, cánh gà, rèm, phông… Phải tính toán kích thước

thế nào, màu sắc ra sao… Ôi! Sao lại giao cho tôi một công việc cần đến những

hiểu biết chuyên môn rất cụ thể tỉ mỉ như thế mà kết quả sẽ là bao nhiêu cặp mắt

trông vào để khen chê, đánh giá. Chiều sao được ý kiến của hàng trăm hàng

nghìn người mỗi lần có biểu diễn nghệ thuật! Tôi chắc đây là do Đỗ Bình Trị.

Ông Đỗ Đức Uyên, anh ruột của Trị, lúc bấy giờ là bí thư đảng uỷ, hiệu phó

trường Đại học sư phạm Hà Nội. Chắc Trị đã xui ông anh giao việc này cho tôi

vì cho tôi biết vẽ vạch lăng nhăng tý chút nên có đầu óc mĩ thuật.

Tôi lo quá. Tự nhiên phải lao động cật lực về việc này. Tôi phải xin giấy

giới thiệu của nhà trường đi nghiên cứu các sân khấu ở Hà Nội, như sân khấu

Nhà hát lớn, rạp Hồng Hà, rạp Công Nhân… Đến đâu cũng lo lắng quan sát màu

sắc, đo đạc tỉ lệ, tính tính toán toán, suy nghĩ để lập một phương án hợp với sân

khấu Đại học sư phạm Hà Nội. Rồi phải dò hỏi xem ở đâu có những ông thợ

chuyên may phông màn cho các sân khấu ở Hà Nội. Tôi đã tìm ra được một ông

thợ đã có tuổi, chuyên về việc này, nhà ở phố Chân Cầm gần Hàng Bông. Cuối

cùng là lĩnh tem phiếu và tiền để đi mua hàng đống vải, chở xích-lô đến Tô

Châu thuê nhuộm các mầu sao cho hài hoà và hợp với ánh sáng điện. Rồi chở

đến hiệu ông thợ may ở phố Chân Cầm, giao cho ông ta. Thời bao cấp, tất cả

đều phải tem phiếu hết. Đâu phải có tiền là mua được! Vậy mà nếu làm hỏng thì

thực là nguy.

Vậy mà cuối cùng tôi cũng đã thành công. Sân khấu ra mắt công chúng,

mọi người thấy cũng được.

Thời gian ba năm ở Đại học sư phạm Hà Nội có một sự kiện rất quan

trọng đối với cuộc đời tôi: gặp NTT, yêu nhau, cưới nhau. T học năm thứ nhất,

tôi học năm thứ ba. Cù Đình Tú, vốn quen T hồi học ở trường Hùng Vương Phú

Thọ, làm mối. Việc trôi chảy. Chúng tôi thường đi chơi với nhau mỗi chiều thứ

bảy, khi thì ở đê sông máng phía Mai Dịch, khi ở đường Láng, khi ở đường

Bưởi. Khoá của T chỉ học có hai năm. Năm 1961, T tốt nghiệp, chúng tôi cưới

nhau ở Hải Phòng. Gia đình T quê ở Xuân Cầu ( xã Nghĩa Trụ), huyện Văn

Giang tỉnh Bắc Ninh ( nay thuộc Hưng Yên) nhưng trước cách mạng buôn bán ở

Hải Phòng. Thời gian kháng chiến chống Pháp tản cư lên Phú Thọ. Hoà bình lập

lại (1954) lại trở về Hải Phòng. Anh Quách Hy Dzong lúc đó cũng ở Hải Phòng

đã giúp tôi tổ chức tiệc trà. Hồi ấy từ nhẫn cưới đến bánh kẹo liên hoan đều phải

có giấy đăng ký kết hôn mới mua được. Cưới xong chúng tôi vào Vinh ( Nghệ

An) công tác. Tôi bị điều vào dạy Đại học sư phạm Vinh còn T thì dạy trường

cấp ba Huỳnh Thúc Kháng.

3. Ở Đại học sư phạm Vinh. Vài nhận xét về đất và người xứ Nghệ.

Trường Đại học sư phạm Vinh thành lập 1959. Một loạt cán bộ giảng dạy

của Đại học sư phạm Hà Nội bị điều vào phục vụ. Nói riêng về khoa văn, có Lê

Hoài Nam, Nguyễn Khắc Phi, Lê Bá Hán, Hoàng Tiến Tựu, Tạ Mạnh Tường,

Phùng Văn Tửu, Nguyễn Gia Phương tốt nghiệp các khoá trước. Khoá tôi thì có

Cù Đình Tú, Trần Gia Linh, Nguyễn Xuân Khoa và tôi. Khoá sau có Trần Duy

Châu, Tưởng Đăng Trữ. Vài năm tiếp theo có thêm Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn

Duy Bình, Nguyễn Văn Giai, Từ ĐứcTrịnh, Lương Duy Thứ, Trần Đình Sử, từ

Đại học Liên Xô, Trung Quốc về. Tiếp nữa là một số sinh viên Đại học sư phạm

Vinh khoá một được giữ lại làm cán bộ giảng dạy như Nguyễn Sĩ Cẩn, Nguyễn

Trung Hiếu, Đậu Văn Ngọ, Trần Lê Xuân, Đỗ Đức Huyến.

Tôi bắt đầu dạy học ở Đại học sư phạm Vinh từ 1961. Đến năm 1969 thì

được chuyển ra Đại học sư phạm Hà Nội. Trường Đại học sư phạm Vinh lúc đầu

có hai cơ sở: một dành cho gia đình cán bộ công nhân viên đặt trong một cái nhà

tu kín của đạo Thiên Chúa. Nhà gạch hai tầng. Tầng trên gồm nhiều phòng quay

mặt vào nhau, giữa là một hành lang dài. Xưa, mỗi phòng chắc là dành cho một

nữ tu sĩ, nay phân cho một gia đình cán bộ. Hai là nơi làm việc của ban giám

hiệu, các phòng ban, lớp học và nơi ở của sinh viên.

Vợ chồng tôi vẫn ăn bếp tập thể nhưng lấy cơm về nhà, có nấu thêm ít

thức ăn. Lương lúc đó chưa được sáu chục đồng, nhưng tôi nhớ, vì giá cả rất rẻ,

nên sinh hoạt không đến nỗi khổ.

Khí hậu Vinh rất khắc nghiệt. Sợ nhất gió Lào. Những ngày hè nóng nực,

tiếng xe cút kít rít lên trong gió Lào, nghe như xé tai. Sợ nhất là những trận cháy

lớn, có khi đốt trụi cả một khu phố ( hồi ấy phần lớn là nhà tranh). Gió Lào thổi

tàn lửa bay rất xa. Người ta phải đứng trên mái nhà, dội nước và cầm lăm lăm

cây sào để hễ tàn lửa bay đến thì dập ngay. Lại phải đào sẵn hố trước nhà để lỡ

không chạy kịp đồ đạc thì quẳng luôn xuống hố, lấp đất. Từ bảy tám giờ sáng

đến năm giờ chiều thành phố Vinh cấm lửa. Mọi thứ nấu nướng phải lo làm

trước và sau thời gian đó.

Tính cách người Nghệ đặc biệt ráo riết, chắc đã được đẻ ra trong không

khí gió Lào này. Vậy mà có thời gian, đài phát thanh Vinh lại còn mở đầu từ

sáng sớm bằng bài hát Đi hùng binh: “ Nào anh em nghèo đâu!…”, Nằm ở Vinh

mà đọc bài Gió Lào của Nguyễn Tuân thì tuyệt.

Năm 1965, máy bay Mỹ đánh phá miền Bắc, Vinh là một toạ độ lửa.

Trường phải sơ tán về nông thôn, lúc đầu ở Thanh Chương, sau ra Nghi Lộc,

cuối cùng chuyển hẳn ra Thanh Hoá: từ Hà Trung, Vĩnh Lộc đến Thạch Thành…

Đến Thạch Thành thì tôi được chuyển ra Hà Nội.

Những ngày sơ tán thế mà cũng có lúc vui đáo để.

Máy bay Mỹ đánh phá, dân địa phương sản xuất ra nhiều thứ không có

nơi tiêu thụ, đành bán tại chỗ với giá rất rẻ mạt: mật ong, trứng gà ở Thanh Khê,

Thanh Chương, cá biển, lạc, ở Nghi Thuận, Nghi Lộc. Hồi ấy, nhà bếp chưa tổ

chức ngay được ở nơi sơ tán, họ giao gạo, tiền cho chúng tôi nấu ăn lấy. Trần

Duy Châu, tôi và Hoàng Ngọc Hiến nấu ăn chung. Châu người Huế, nấu ăn giỏi,

được giao làm bếp. Tôi làm tiếp liệu, nghĩa là mua rau cỏ, thịt cá người ta gánh

qua nhà. Hiến không biết làm gì, nhận việc xách nước, rửa bát. Ăn xong, rửa bát

là khốn nạn nhất nên Hoàng Ngọc Hiến gọi rửa bát là thứ lao động thô bỉ.

Thời gian sơ tán, nói chung rỗi rãi. Nhưng hoàn cảnh chiến tranh chẳng có

gì giải trí, chúng tôi bèn nghĩ ra nhiều trò đùa rất vớ vẩn. Hình như nghĩ những

điều có nghĩa lý mãi cũng mệt và chán – khoa học là chuyên nói lý, suy lý – nên

phải bầy ra những trò vô nghĩa lý để thư giãn với nhau. Nguyễn Gia Phương

chẳng hạn, nghĩ ra cái trò lừa dối anh em chơi:

– Này xin nghỉ phép về nhà, phải chuẩn bị hai hào lệ phí đấy.

– Này, cậu có thư ở văn phòng, đến mà lấy

– ủng là hàng chiến lựơc, cậu mới mua ủng, phải ra ngay công an đăng kí

không thì bị tịch thu đấy.

Thực ra toàn bịa đặt. Vậy mà cũng có khối anh mắc lừa.

Tôi và Hoàng Ngọc Hiến rỗi rãi ngồi tán chuyện với nhau. Hiến nghĩ ra

trò phân loại các cán bộ trong khoa theo tiêu chuẩn ăn cắp, ăn cướp. Hoàn toàn

không theo nghĩa đen, chỉ căn cứ vào tướng mạo, khẩu khí, cung cách ứng xử,

sinh hoạt. Anh nào trông lúi xùi, không đàng hoàng thì gọi là ăn cắp, anh nào ăn

to nói lớn, trông có vẻ hiên ngang thì gọi là ăn cướp. Nói chung ăn cướp sang

trọng hơn ăn cắp.

Chuyện đến tai chi bộ đảng. Các vị hiểu theo nghĩa đen nên cho là một

hiện tượng tư tưởng cực kỳ nghiêm trọng. Bí thư chi bộ Huỳnh Lý bèn quyết

định gặp chúng tôi để xem xét và chấn chỉnh. ( Hiến là đảng viên)

Hôm ấy, tôi với Hiến đang ngồi chơi, thấy anh Huỳnh Lý đến. Từ xa, anh

nói to, ướm thử một giọng vui trước khi vào chuyện:

– “ Thế nào, các cậu nói chuyện ăn cắp, ăn cướp thế nào đấy?” Hoàng

Ngọc Hiến trả lời ngay:

– “ Chúng tôi phân cho anh là ăn cướp là danh giá lắm rồi, anh còn thắc

mắc gì nữa?”

Chuyện trở thành trò đùa. Thế là hoà cả làng.

Viết đến đây, tôi không thể không ghi lại mấy dòng về anh Huỳnh Lý.

Anh làm Chủ nhiệm khoa văn Đại học Sư phạm Vinh được vài năm thì bị ốm

nên được chuyển trở lại Hà Nội. Sau 1975, anh vào ở trong Sài Gòn. Anh rất tốt

bụng, giầu tình cảm. Chế Lan Viên gọi anh là Huỳnh Tình.

Khi nghe tin anh mất, tôi có gửi vào viếng anh một đôi câu đối: Tên là Lý,

dạ thì tình, đất Bắc anh đi, xa vẫn nhớ; Tuổi tuy già, lòng vẫn trẻ, trời Nam anh

khuất, vắng càng thương.

Anh Lý mất ngày 21 – 5 – 1993.

Xin trở lại những ngày tôi ở Đại học Sư phạm Vinh.

Hồi khoa văn Đại học sư phạm Vinh sơ tán ở Thạch Thành, để tiện sinh

hoạt chuyên môn, khoa chủ trương những người cùng tổ nên ở với nhau (nhà

dân). Nhưng Hoàng Ngọc Hiến nhất định đến với tôi, tuy anh dạy Văn học Nga

Xô Viết, còn tôi thì dạy Văn học Việt Nam. Chúng tôi ở nhà một ông thầy cúng

người Mường tên là Cò Lửa.

Hàng ngày, nếu không đi dạy thì chúng tôi đọc sách, viết lách bài này bài

khác, chán thì quay ra tán ngẫu. Tôi nhớ trong những ngày ấy Hoàng Ngọc Hiến

viết bài Triết lý truyện kiều, còn tôi viết bài Con đường Nguyễn Tuân đi đến bút

ký chống Mỹ. Vừa viết vừa trao đổi ý kiến với nhau. Hiến rất chú ý học chữ, đặc

biệt những chữ có sức diễn đạt mạnh, anh gọi là đích đáng. Anh lấy làm khoái

trí khi học được ở ông Cò Lửa hai chữ “ bõ hờn”. Trong bài Con đường Nguyễn

Tuân đi đến bút ký chống Mỹ, tôi viết: “ Mùa xuân năm 1965, về thăm Quảng

Bình, Vĩnh Linh, trong lửa đạn, anh mừng rỡ được gặp lại một người bạn cũ.

Hoá ra, ở ngay chỗ này đây, người bạn thân năm nào vẫn hào hoa phong nhã,

nụ cười “ hoa” như thách thức với bom đạn, như hoà vui trong chiến thắng của

con người: Giữa phòng khách Uỷ ban Bảo Ninh vàng nức một nhánh hoàng

mai…”. Hoàng Ngọc Hiến đề nghị tôi chữa “ hoá ra” thành “ té ra”. Đúng là

đích đáng hơn, đã hơn, hay nói như Hoàng Ngọc Hiến, thật là “ bõ hớn”.

Khi chúng tôi ngồi tán chuyện với nhau, ông Cò Lửa thường quanh quẩn

quan sát. Hoá ra ông xem tướng chúng tôi. Và ông đưa ra những nhận xét khá

bất ngờ: “ Thầy Mạnh có tướng võ, rất có uy, còn thày Hiến thì tướng văn”. Sau

này Hiến còn khoe với tôi: “ Ông Cò Lửa cho mình có bàn chân Phật”. Hiến ta

rất lấy làm đắc ý về nhận xét ấy. Còn tôi thì không rõ mình có uy ở chỗ nào.

Thạch Thành rất nhiều ốc sên, chúng bám đầy những thân cây chuối mọc

hoang trong làng. Tôi và Hiến ban đêm xách đèn đi bắt, rồi mỗi người một đầu

đòn gánh khiêng về nhà, lấy gạch quây lại làm lương ăn dần.

Con ốc sên có hai cái vòi trông rất tởm. Nhưng thịt cá không có, đành

phải ăn, lâu rồi cũng quen, lại được khuyến khích bởi một tin đồn: ba con ốc sên

bằng một quả trứng vịt, xét về lượng prôtít.

Làm ốc sên, công việc khó khăn nhất là làm sao rửa sạch hết nhớt của nó.

Người ta thường lấy tro bếp rắc vào rồi rửa và kỳ cọ thật kỹ, nhưng vẫn không

hết nhớt. Về sau Nguyễn Duy Bình phát hiện: Cứ đun sôi mãi lên, nhớt ốc sên sẽ

tan thành nước lã, hắt đổ đi là xong. Khác với ốc ao, ốc sên càng ninh lâu càng

giừ, ăn như thịt bò hầm vậy. Bỏ vào ít lá quýt, ăn rất thơm ngon. Vừa rồi tôi đi

Pháp, thấy ở Paris có cửa hàng bán món ốc sên. Chị Thuỵ Khuê cũng có lần làm

món ốc sên cho tôi ăn. ốc sên ở pháp nhỏ và không có vòi dài như ốc sên Việt

Nam, nhưng ăn không ngon. Người ta thường chiên bơ, tôi không thích.

ở Thạch Thành, có một dạo, không hiểu sao bọn nữ sinh bỗng phát bệnh

thần kinh hàng loạt, như là một nạn dịch. Người ta nói do khủng hoảng sinh lý.

Có người lại cho là do ăn phải nước ở vùng này. Những cô gái bỗng dưng cười

cười nói nói lăng nhăng như rồ như dại. Mà rất dễ lây. Cố nhiên không lây theo

đường vi trùng, virút gì, mà do tác động về tâm lý.

Tôi không nhớ tình trạng này đã chấm dứt như thế nào và vì sao mà chấm

dứt.

Tôi ở Nghệ An khá lâu, từ 1960 đến 1968. Có một điều lạ là, một mặt tôi

thấy người Nghệ Tĩnh có nhiều đức tính rất quý. ở nhà dân nhiều, tôi thấy họ

thật thà, trung thực, cần cù. Tôn sư trọng đạo có lẽ là một truyền thống của Nghệ

Tĩnh ( tôi không nói truyền thống của dân tộc Việt Nam). Vì đây là đất Nho giáo

rất thịnh.Họ rất quý các thầy giáo. Chúng tôi ăn cơm ở bếp tập thể, nhưng

thường lấy về nhà ăn. Nhà chủ thường cung kính đem lên cho thầy giáo vài món

ăn thêm, đặt vào khay, bưng tới thày. Mở ra thì là mấy con dế mèn rán hoặc đĩa

nhút thế thôi. Nhưng tôi hiểu tấm lòng của họ rất quý thầy.

Tôi cũng có mấy người bạn thân quê Nghệ Tĩnh, như Hoàng Ngọc Hiến,

Nguyễn Duy Bình…

Tuy vậy tôi vẫn không sao có cảm tình đối với người Nghệ Tĩnh nói

chung, nhất là loại cán bộ.

Hoàng Ngọc Hiến quê Hà Tĩnh, nhưng từ nhỏ sống ở Nam Định. Có lẽ vì

thế mà anh có cái nhìn khách quan đối với quê hương mình chăng? Anh định

nghĩa: “ Người Nghệ Tĩnh cái gì cũng biết, trừ hạnh phúc.”

Tôi thì cho rằng dân Nghệ Tĩnh sống quá khắc khổ và có một ý chí rất

quyết liệt. Họ đã muốn gì thì phải tranh đoạt bằng được. Và quá tự hào, tự phụ

về quê hương mình. Cãi nhau với người Nghệ Tĩnh là dại. Vì họ tự cho là đúng

nhất, giỏi giang nhất và vì thế cãi đến cùng, lý sự đến cùng, căng thẳng, quyết

liệt đến cùng, khiến đối phương mệt quá, đành phải bỏ cuộc. Dân Nghệ Tĩnh nói

chung có tật hay khoe khoang. Khoe tài, khoe giỏi, khoe quê hương cái gì cũng

nhất, từ chính trị đến văn hoá nghệ thuật. ở đâu, trên xe lửa, trong ôtô bus, hay ở

những cuộc gặp mặt đông người nào đó, tiếng Nghệ Tĩnh cứ oang oang như

muốn lấn át tất cả… Nghe nói Vũ Ngọc Khánh có in một cuốn sách tập hợp

những bài viết về mình, đặt tên là “ Sao Khuê ngàn Hống”. Đúng là một biểu

hiện lộ liễu của tính cách huênh hoang Nghệ Tĩnh.

Nghệ Tĩnh xem ra là vùng đất độc tôn của đạo Nho. Phật giáo không sao

phát triển được. Tôi để ý, ở đây có rất nhiều đền miếu nhưng rất ít chùa. Cả

thành phố Vinh chỉ có một ngôi chùa Sư nữ và chùa này không được địa phương

coi trọng. Các nhà sư tụ trì chùa Sư nữ đã phàn nàn với tôi như vậy.

Có một lần, khi tôi đã chuyển ra Hà Nội rồi, nhưng được trường Đại học

sư phạm Vinh mời vào dạy giúp. Tôi nhớ lúc ấy đang mùa hè và ở sân động

Vinh có cuộc đấu bóng giữa Việt Nam và Cu ba, gọi là đá bóng quốc tế. Một

học sinh cũ mua cho tôi một vé vào xem. Anh nói, trận đấu bắt đầu từ một giờ

rưỡi chiều, nhưng phải đến từ 11 giờ trưa mới có chỗ ngồi. Đến muộn chỗ đứng

cũng không có. Tôi không nghe, vì biết sân vận động Vinh hồi ấy rất thô sơ, mái

che không có, chỗ đi toalét cũng không. Mà trời nắng nóng thế này! Anh học trò

đành nhân nhượng, nhưng anh nói, dù sao cũng phải đến sớm.

Chúng tôi đến vào khoảng 1 giờ chiều. Quả là chỗ đứng cũng phải chen

chúc nhau rất chật vật. Vì người ta cứ bán vé bừa bãi. Gần đến giờ đấu, thấy

người vào quá đông, anh gác cửa sân vận động bèn đóng cửa lại. Thế là hò hét,

gào thét. Nguy hiểm nhất là từ ngoài cứ ném đá vào. Công an phải ra sức dẹp

mới yên.

Vào đến sân vận động, tôi thấy có một điều rất lạ là nhiều đàn bà, con gái

đã chiếm được chỗ ngồi hẳn hoi. Chắc là họ đến sớm lắm. Nhưng trông bộ dạng

không có gì là văn minh cả. Hình như phần lớn lại là dân lao động hay buôn bán

rau cỏ gì đó. Vì có người đem theo cả thúng mủng, quang gánh. Chẳng lẽ đàn bà

Nghệ An lại văn minh hơn cả phụ nữ phương Tây? Đàn bà phương Tây cũng

không ham xem đá bóng đến thế. Tôi nghĩ bụng thế và lấy làm khó hiểu.

Nhưng tôi đã nhầm. Trận đấu diễn ra được độ mười phút thì thấy họ lục

tục kéo ra. Phải nói đi ra còn khó hơn đi vào. Vì phải chen lấn quyết liệt. Nhưng

đã quyết thì phải ra bằng được, dù có phải bước qua đầu, qua vai người ta. Và

thế là chửi nhau, đánh nhau, không ai chịu ai. Tưởng đá bóng quốc tế hay ho thế

nào nên phải vào sớm để chiếm chỗ, té ra chẳng ra quái gì, chỉ là tranh giành

nhau trái bóng! Thế là phải ra thôi và họ quyết ra bằng được. Đấy, dân Nghệ

Tĩnh là như thế đấy.

ở Đại học sư phạm Hà Nội có hai ngôi nhà năm tầng dành cho các gia

đình cán bộ công nhân viên, gọi là nhà B2, B3, gần kề sân vận động. Sáng sớm

các thầy giáo thường ra đó tập thể dục. Tập thì ít mà nói chuyện thì nhiều. Tôi

bèn đem câu chuyện trên kia ra kể. Nhiều anh người Nghệ Tĩnh lấy làm khó

chịu. Có anh nói với tôi nửa đùa nửa thật: “ Này Nghệ Tĩnh là quê cụ Hồ đấy,

đừng có láo!” Tôi trả miếng ngay: “ Ông có biết vì sao cụ Hồ vĩ đại không? Vì

cụ đã bỏ Nghệ Tĩnh mà đi, đi rất xa và rất lâu. Nếu ở lại Nghệ Tĩnh có khi chỉ

trở thành một ông đồ gàn. Đấy bà chị, ông anh của cụ Hồ là thế đấy! Các danh

nhân Việt Nam quê Nghệ Tĩnh xưa nay đều thế cả, như Nguyễn Du, Hồ Xuân

Hương…”

Năm 1961,vợ tôi cùng vào Vinh với tôi, dạy ở trường cấp III Huỳnh Thúc

Kháng. Đến năm 1965 thì đựơc ra Hà Nội bổ túc thêm về chuyên môn một năm.

Nhân giặc Mỹ đánh phá miền Bắc, các tỉnh miền Trung thành túi bom, vợ tôi

bèn xin ở lại Bắc, không trở lại Vinh nữa. Từ đó tôi luôn phải ra ra vào vào, đạp

xe mỗi lần hơn ba trăm cây số ( xe cà tàng, đang đi có lần tụt cả pêđan, phải dắt

bộ hàng chục cây số đến chỗ chữa), phần để đọc sách, phần để thăm gia đình.

Nói chung làm khoa học mà ở tỉnh nhỏ rất khó phát huy khả năng. Đã thế chính

sách cán bộ của Vinh lại hẹp hòi, nghiệt ngã kiểu “ cá gỗ”. Vì thế ngay những

cán bộ quê Nghệ Tĩnh cũng chả muốn gắn bó với trường Vinh. Văn Như Cương,

người nghệ An, có làm một bài nhại thơ cụ Hồ:

Thân thể ở trong Vinh

Tinh thần ở ngoài Vinh;

Muốn nên sự nghiệp lớn,

Thì phải chuồn cho nhanh.

Hoàng Ngọc Hiến xui tôi: “ muốn thoát khỏi Đại học sư phạm Vinh thì

phải quậy phá. Cậu cứ đòi đi học tiếng Nga ở Hà Nội ( Đại học sư phạm ngoại

ngữ) trước đã, sau đó sẽ hay.

Năm 1968 tôi theo lời Hiến xin đi học. Năm sau (1969) thì Đại học sư

phạm Vinh cho chuyển ra Hà Nội. Không biết có phải là do mẹo của Hiến

không?

4. Qua Thanh Hoá. Vài nhận xét về mỹ học Xứ Thanh.

Trong thời gian công tác ở Đại học sư phạm Vinh, đi ra đi vào Hà Nội –

Nghệ An, tất nhiên tôi phải qua Thanh Hoá. ( sau này trường Đại học sư phạm

Vinh lại sơ tán mấy năm ở đất Thanh).

Vào đầu những năm 60 của thế kỷ trước, đường xe lửa từ Hà Nội vào

Nam chỉ chạy đến thị xã Thanh Hoá. Đi tiếp vào Vinh, phải đáp ôtô. Thời bao

cấp, ôtô không nhiều. Xuống tầu ở ga Thanh Hoá, tôi phải đợi vài ba tiếng đồng

hồ mới có ôtô vào Nghệ An. Thành ra mỗi lần từ Hà Nội vào Đại học sư phạm

Vinh, tôi cứ phải lang thang ở thị xã Thanh Hoá vài ba tiếng đồng hồ. Làm gì

cho tiêu hết thì giờ? Rất may là tôi có một cái thú riêng mỗi khi đến một vùng

đất mới là quan sát cảnh và người rồi rút ra những nhận xét khái quát về đặc

điểm của địa phương ấy. Chẳng để làm gì cả. Chỉ là một cách giải trí riêng, một

trò chơi trí tuệ thế thôi.

Lang thang ở thị xã Thanh Hoá, tôi thấy nhà nào cũng quét vôi xanh xanh

đỏ đỏ và kẻ chỉ màu, nhà nào cũng căng riđô màu xanh nhạt ở cửa sổ, trong nhà

thì cắt những tranh ảnh ở hoạ báo dán lên tường…vv… Một thứ trang trí bay

bướm tựa như lối trang trí thường thấy ở những tiệm thợ cạo quê mùa- tôi gọi là

“ mỹ thuật phó cạo”.

Tôi đặc biệt để ý đến những bức tranh áp phích treo ở các cột điện minh

hoạ luật giao thông. Hình như thị xã đặt một tay hoạ sĩ vườn nào đó chuyên vẽ

những bức tranh này. Nói về luật giao thông, nhưng chủ đề tuyên truyền luật

giao thông lại bị chìm đi trong một khung cảnh được vẽ rất tỉ mỉ. Chẳng hạn, vẽ

hai xe đạp do đi cùng chiều nên đâm vào nhau, ý nói như thế là trái luật. Nhưng

hình ảnh hai cái xe đạp tông vào nhau kia lại được vẽ rất nhỏ. Nhà hoạ sĩ gia

công nhiều hơn vào việc tô vẽ quang cảnh xung quanh: vườn hoa, cây cối, nền

trời xanh với những đám mây trắng, đàn chim bay…vv…

Tôi kết luận, khuynh hướng thẩm mỹ của dân Thanh Hoá đúng là chỉ

thích vẽ vời hoa lá cành, chứ không chú trọng thể hiện một nội dung gì nghiêm

chỉnh, sâu sắc. Và tôi liên hệ đến mấy cây bút Thanh Hoá, như Hà Minh Đức (

ông Hoài Thanh rất khó chịu về câu văn của Hà Minh Đức), Văn Tâm( Nguyễn

Huy Thiệp rất tinh. Anh nói, văn của Văn Tâm là “ làm dáng trí thức”), Nguyễn

Thanh Hùng ( diễn đạt rắc rối, làm ra vẻ uyên bác, thực chất chả có nội dung gì),

Nguyễn Văn Lưu thì chỉ gia công vào cái giọng mạt sát chua ngoa hàng tôm

hàng cá. Còn Lê Xuân Đức thì huyênh hoang một cách ngu xuẩn… Cách viết và

lối giảng bài của anh Nguyễn Trác cũng thiên về bóng bẩy, hùng hồn, nội dung

thì rất đơn giản.

Tôi có lần trình bầy nhận xét này với Chu Văn Sơn. Anh phản đối:

“Những cây bút ấy đâu phải tiêu biểu cho Thanh Hoá. Thanh Hoá còn có Hữu

Loan, Trần Mai Ninh, Nguyễn Duy nữa chứ! ( Chắc anh không tiện nói có cả

Chu Văn Sơn nữa). Tôi không nghĩ nhận xét của mình đúng với mọi cây bút

Thanh Hoá, nhưng chắc có nói được một điều gì đó có thể gọi là đặc điểm của

người đất Thanh, của mỹ học đất Thanh. Vả lại trên đời này cái gì chẳng có

ngoại lệ. Mọi qui luật, mọi khái quát đều nghèo nàn hơn sự thật. Nhưng cứ để ý

mà xem, có phải chính Chu Văn Sơn cũng có một cái gì rất Thanh Hoá: thích

dùng chữ nghĩa tân kỳ, thích diễn đạt bay bướm hoa lá cành, tuy anh không phải

không muốn phát biểu những suy nghĩ riêng có chiều sâu?

Từ năm 1965, giặc Mỹ đưa không quân ra đánh phá miền Bắc nước ta,

trường Đại học sư phạm Vinh phải sơ tán ra Thanh Hoá, khi ở Hà Trung, khi ở

Vĩnh Lộc, khi lên tận vùng núi Thạch Thành. Sống nhiều với dân Thanh Hoá,

tôi thấy, nói chung họ cởi mở và thoải mái hơn dân Nghệ, tuy cũng hay nói trạng

như dân Nghệ, nhưng để tán cho vui hơn là để khoe tài, khoe giỏi. Thanh Hoá

đúng là đất đẻ ra lắm truyện cười như Trạng Quỳnh, Xiển Ngộ… Chính dân

53

Thanh Hoá đã tự giễu mình bằng bài vè gọi là “ Quốc ca Thanh Hoá” rất tếu, thể

hiện rất đúng tính cách dễ vui, dễ cười, thích tán, thích đùa của dân Thanh Hoá.

5. Trở lại Đại học sư phạm Hà Nội. Những ngày gian khổ sau chiến tranh

(1975)

Năm 1970, vợ chồng tôi được đoàn tụ ở Hà Nội. Tôi ở Vinh ra. Vợ tôi ở

Thái Nguyên về.

Thực ra tôi được chuyển ra Đại học sư phạm Hà Nội từ năm 1969 giữa

lúc trường còn ở nơi sơ tán ( Yên Mỹ, Hưng Yên). Năm 1970 trường tuy đã trở

về địa diểm cũ, nhưng vì nhà cửa, phòng ốc chưa được sửa sang, xây dựng đầy

đủ, nên nhiều lớp học phải đặt tạm thời ở Đình Thọ ( Bưởi) hoặc nhà kho của

một hợp tác xã ở Cổ Nhuế.

Năm 1971, vợ chồng tôi mới được phân cho một gian nhà lá, nền đất,

vách đất trong một dãy nhà gọi là K2. Bốn người, hai vợ chồng, hai đứa con (có

khi lại thêm bà nhạc đến chơi với cháu nữa) ở chen chúc trên mười mấy mét

vuông. Mùa hè nóng quá, có khi phải kê giường ngủ ngoài hè. Sách vở đặt trên

những xích đông làm bằng tre nứa.

Cuối năm 1972, máy bay Mỹ lại trở lại oanh tạc miền Bắc, dội B52 xuống

Khâm Thiên, Hà Nội. Vợ chồng tôi lại phải sơ tán một lần nữa, khi ra Tây Tựu,

khi đến Quốc Oai (Sơn Tây), khi về Xuân Cầu ( Hưng Yên). Trường thì lúc đầu

chạy lên Đan Phượng, sau lại chuyển về nơi sơ tán cũ ở Yên Mỹ, Hưng Yên.

Hồi ấy anh Lê Trí Viễn làm chủ nhiệm khoa. Nguyễn Văn Hạnh, Trần

Thanh Đạm làm phó. Có thời gian anh Viễn giao mọi việc cho Hạnh gọi là

quyền chủ nhiệm khoa. Hạnh chỉ định tôi làm trợ lý giảng dạy: theo dõi giảng

dạy, dự lớp giáo viên, tổ chức ra đề và chấm thi tốt nghiệp…vv…

Nhớ lại hồi ấy, tôi tỏ ra rất hăng hái. Viết cũng nhiều, dạy cũng đầy nhiệt

tình. Vì dù sao cũng được về Hà Nội và được đoàn tụ với gia đình.

Ngày 30-4-1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Đây là những ngày rất vui. Tuy nhiên, về đời sống vật chất thì vẫn khổ, có

khi còn khổ hơn cả thời chiến tranh. Vẫn cơm độn mì hay bo bo. Vẫn xếp hàng

chầu chực từ rất sớm để mua gạo mậu dịch. Mì để lâu bị mọt, sinh ra dòi bọ. Tôi

đã thấy một lần như thế trong bát cơm của mình. Sợ quá! Ngày tết thì đem bột

mì đi thuê làm bánh bích quy và xếp hàng mua hàng Tết. Làm gì cũng phải xếp

hàng, phải chầu chực. Quyền thế nhất lúc bấy giờ là bà chủ kho gạo, là cô hàng

mậu dịch… Hồi ấy hay nói đùa: “ Đẹp nhất là hình ảnh một người ngồi giữa hai

bao gạo đầy”. Đây là lúc Hoàng Ngọc Hiến từng phát biểu một câu rất tội: “ Đi

đường thấy một xu ai đánh rơi cũng phải nhặt. Kiếm đâu ra một xu bây giờ!”

Giới nhà văn cũng không hơn gì. Nguyễn Tuân cũng phải xếp hàng mua bia hơi

( ông gọi là bia bơm). Đi đường, ông mang theo một bi đông rượu cuốc lủi,

thỉnh thoảng lại rót ra cái nắp uống. Thương cho cụ Nguyễn quá, bây giờ cụ còn

sống thì tha hồ Wisky, Cognac… Cán bộ miền Nam tập kết, trở lại quê hương

cũng chẳng sướng hơn. Người thì bán cà phê, thuốc lá, người thì bán đá cục,

người thì đêm đêm hì hục làm sữa chua để sáng sớm hôm sau chạy đi bỏ ở các

hàng quán…

Vào khoảng 1997, 1998 gì đó, Nguyễn Hưng Quốc về nước có đến thăm

tôi. Anh vốn là học sinh ở Sài Gòn dưới thời Nguyễn Văn Thiệu. Sau 30-4-

1975, anh ở lại thành phố và học văn ở Đại học sư phạm Sài Gòn. Tốt nghiệp,

anh được giữ lại làm cán bộ giảng dạy. ít lâu sau, anh vượt biên sang Pháp rồi

sang Úc và hiện đang làm việc ở đấy.

Anh nói, sở dĩ anh vượt biên không phải vì sợ khổ mà cảm thấy tương lai

mù mịt. Anh kể tôi nghe một chuyện thật tội nghiệp.

Hồi ấy còn chế độ bao cấp, mọi thứ thực phẩm đều được phân phối theo

tem phiếu, mà tiêu chuẩn thì rất hạn chế. Tuy nhiên do sự tháo vát của công

đoàn, thỉnh thoảng anh em cũng được mua thêm ít thịt, ít cá ngoài tiêu chuẩn.

Anh nhớ hôm ấy công đoàn kiếm đâu được một mớ thịt đem về chia đều

cho mỗi người một suất. Tất nhiên dù chia cẩn thận đến thế nào vẫn không thể

đều nhau tuyệt đối được. Trong khi chia thịt, mọi người đứng vây xung quanh.

Không ai bảo ai nhưng người nào cũng chăm chăm quan sát các suất thịt xem

miếng nào ngon hơn, miếng nào nhỉnh hơn.

Chia xong, bắt đầu nhận phần. ưu tiên nhận trước phải dành cho bậc cao

niên nhất trong khoa, ấy là thầy Viễn – Lê Trí Viễn. Do đã nhằm sẵn, nhằm kỹ

trước rồi nên được lệnh, thầy chộp ngay lấy một miếng ngon nhất và có phần

nhỉnh hơn các miếng khác một chút.

“ Ôi! – Nguyễn Hưng Quốc nói tiếp – em phấn đấu đến bao giờ mới thành

giáo sư Viễn để được chộp lấy miếng thịt kia! Phải vượt biên thôi! Vượt biên

thôi!”

Tình cảnh cán bộ, trí thức hồi ấy, giờ nghĩ lại, muốn rớt nước mắt.

Hoàng Ngọc Hiến, sau 1975, có vào Sài Gòn, đến thăm một người họ

hàng. Anh nói, khi trở về Bắc, chỉ mong người ta tặng cho mấy thứ đồ điện như

tivi, tủ lạnh hay quạt máy. Nhưng do kính trọng ông giáo sư Bắc Hà quá, người

ta lại chỉ gửi ra toàn đồ mỹ phẩm đắt tiền để tặng bà giáo.

Anh Lê Quang Long vào Huế cũng gặp phải một trường hợp được kính

trọng một cách tai hại như thế. Năm 1977, tôi và anh được mời vào dạy cho Đại

học sư phạm Huế – gọi là thỉnh giảng. Trường cao đẳng sư phạm ở gần kề

trường đại học mời anh sang nói chuyện. Họ đón tiếp rất long trọng: tặng hoa,

và giới thiệu giáo sư bằng những lời lẽ rất to tát, sang trọng. Nhưng chẳng thấy

đưa phong bì gì cả. Đợi mãi mấy hôm cũng không thấy gì. Té ra ở trường này có

một anh bạn cũ của Lê Quang Long dạy học ở đấy từ trước 1975. Người bạn này

một hôm đến gặp anh Long và nói: “ Bọn giám hiệu Cao đẳng nó ngu quá! Nó

định đưa tiền cho anh đấy. Tôi vội gạt đi: “ Đừng làm thế, bất lịch sự! Ông ấy là

giáo sư đấy!”

Lê Quang Long nói với tôi: “ Mình chỉ mong nó khinh mình, chứ kính

trọng thế thì tai hại quá!”

6. Sài gòn, Nam bộ. Vài suy nghĩ về đất và người phương Nam.

Tôi có một bà chị ở Sài Gòn nên xin được vào thành phố này ngay cuối

55

năm 1975. Hồi ấy muốn vào Sài Gòn phải có giấy phép với lý do có người nhà

trong ấy. Có giấy phép thì mới được đổi tiền Bắc lấy tiền Nam và được đưa vào

theo một đường dây có tổ chức. Từ Hà Nội đi xe lửa đến một chặng nào đấy thì

được chuyển sang ô tô. Chỗ ăn chỗ ngủ đều có người bố trí chu đáo. Lâu rồi, tôi

không còn nhớ nơi ăn ngủ dọc đường, chỉ biết là người ta xếp vào những nhà

dân đã được chuẩn bị sẵn.

Bây giờ nghĩ lại thấy không hiểu sao hồi ấy tôi không có nổi một chiếc áo

veston hay blouson chẳng hạn. Tôi phải mượn ông anh bộ đội chiếc áo kaki bốn

túi của sĩ quan để phủ ra ngoài chiếc sơ mi nhếch nhác ( sau này vào thỉnh

giảng ở Sài Gòn, bà chị tôi may cho một chiếc áo sơ mi cộc tay bằng vải ni lông

trắng. Mỗi khi lên lớp, chỉ có cái áo ấy là trông được. Vì thế ban đêm tôi phải

giặt áo phơi trong phòng ngủ rồi mở quạt hong cho khô, sáng hôm sau mặc lại.)

Lần đầu tiên vào Nam, tôi rất xúc động. Thực ra khi dạy ở Đại học sư

phạm Vinh tôi đã có dịp được tham quan Cửa Tùng, Vĩnh Linh. Tôi còn nhớ

nhìn sang bờ Nam sông Bến Hải, thấy một khẩu hiệu rất lớn quay sang bờ Bắc –

cốt cho người Bắc đọc: “ ở đâu con tố cha, vợ tố chồng?”

Bây giờ xe tôi vượt qua sông Bến Hải. Tôi dán mắt vào bên đường cố ghi

lại mọi cảnh vật. Đây là vùng nguỵ, có gì khác với miền Bắc? Bao nhiêu địa

danh nổi tiếng thường nghe qua đài phát thanh hay đọc trên báo, nay hiện ra

trước mắt mình đây: Gio Linh, Cồn Tiên, Dốc Miếu, Đông Hà, Quảng Trị, Huế,

Đà Nẵng, Hải Vân, Chu Lai…vv…

ấn tượng nổi bật nhất là một màu cát trắng trải dài suốt dọc đường Quảng

Trị với những mái nhà tôn hoang phế, những xác xe cơ giới và giây thép gai

chưa dọn hết, dấu vết cuộc chiến ác liệt còn nguyên vẹn. Càng vào phía Nam

càng lắm dừa. Dừa miền Nam là cây tre của miền Bắc. Rất ấn tượng là những

cây dừa đơn độc đứng trụ hiên ngang trước gió biển mặc cho những tàu lá tung

bay tơi tả – biểu tượng của miền Nam kiên cường bất khuất đó chăng? Tôi bỗng

thấy mình có cái say sưa hào hứng như là đại diện cho một dân tộc chiến thắng

đang tiến quân vào Sài Gòn…

Lần đầu tiên vào Sài Gòn, tôi mới thấm thía được thế nào là sự kì diệu của

tiếng nói dân tộc. Ta vẫn nói, Nam Bắc là một nhà, Việt Nam là thống nhất. Tôi

vào Nam, thấy nhiều điều xa lạ khác hẳn miền Bắc. Nhưng khi nghe người dân

nói, thì đúng là vẫn ngôn ngữ ấy, vẫn tiếng nói ấy của người Việt. Vậy là vẫn

người một nước, vẫn anh em một nhà. Tôi thật sự xúc động.

Chỉ có điều chính sách, thái độ chính trị của ta đã khiến họ trở thành xa lạ,

thậm chí đối địch. Hồi giải phóng Thủ đô, ta đã đốt sách đốt vở rất nhiều. Sách

vở dưới chính quyền nguỵ đều bị coi là văn hóa nô dịch, phải phát động thanh

niên, học sinh tập trung lại, đốt hết. Tưởng việc làm quá khích và dại dột ấy

không lặp lại một lần nữa, khi giải phóng Sài Gòn. Té ra vẫn thế. Vẫn tập trung

và đốt. Tôi đã được chứng kiến những kho sách tịch thu được gom lại ở sở Văn

hoá Sài Gòn. Nhiều sách báo rất quý lẽ ra đưa vào thư viện để nghiên cứu đã bị

quăng hàng đống dưới đất, chắc rồi sẽ bị huỷ hoại hết. Nghe nói nhiều người

dân Sài Gòn sợ liên luỵ, ban đêm đã phải lén lút đem sách vở của thư viện gia

56

đình vất đi. Một hiện tượng thật vô văn hoá, phản tri thức.

Sau 1975, có lần tôi được cử vào Sài Gòn để nói chuyện với các giáo viên

văn học dưới chính quyền cũ về quan điểm của miền Bắc đối với các tác phẩm,

các xu hướng văn học tiền chiến. Học viên đều là những thầy giáo cô giáo đã

đứng tuổi, trong số đó, nhiều người đã viết sách giáo khoa, thậm chí đã là những

cây bút thành danh. Thế mà sau mỗi tiết học, anh đại diện lớp lại lễ phép nói với

tôi: “ Xin phép thầy cho anh chị em hát một bài”. Và họ sắp hàng đồng ca những

bài hát cách mạng mới học được. Thái độ rất nhiệt tình.

Có ai bắt họ làm như thế đâu. Họ tự nguyện hưởng ứng cách mạng đấy

thôi.Vậy mà nghe nói, chỉ vài năm sau, nhiều người đã vượt biên.

Vì sao như thế? Vì ai mà họ cảm thấy không có tương lai, tiền đồ gì, nếu

ở lại với chúng ta?

* *

*

Nhưng hãy trở lại với chuyến đi Sài Gòn của tôi cuối năm 1975.

Về đời sống vật chất, trong tương quan với Hà Nội lúc bấy giờ, Sài Gòn

thật là giầu có, phồn vinh. Hàng hoá đầy ắp các cửa hiệu, tràn cả ra hè phố, cả

lòng đường. Toàn những thứ miền Bắc rất khan hiếm, đặc biệt là quần áo, vải

vóc và đồ dân dụng. Xe máy rất nhiều, trong khi miền Bắc xe đạp cũng không

dễ có.

Vào Sài Gòn ngay sau 1975, người miền Bắc quả đã bị choáng ngợp. Nếu

có chê thì chê theo một định kiến cũ kỹ về mặt đạo đức. Thí dụ, đàn bà con gái

mặc áo dài không có áo lót, hở ra bên hông (Ông Vũ Thuần Nho gọi là triangle

sexuel.) Nhiều cô mặc áo như cái maillot, có cô mặc quần soóc đi ngoài

đường…vv… Giờ thì những cách ăn mặc như thế rất phổ biến ở ngoài Bắc.

Tôi ở Sài Gòn với bà chị ít lâu rồi trở lại Hà Nội, xin được bà chị cái tivi

nhỏ xíu 9 inch, và mua được một ít quần áo và đồ gia dụng lặt vặt.

Dọc đường trở ra Hà Nội, thấy một hình ảnh rất phổ biến và cũng rất tiêu

biểu của những cán bộ, bộ đội được nghỉ phép trở về Bắc: người nào cũng khuân

theo một khung xe đạp và một con búp bê nhựa. Lính thì đi bộ, gánh một đầu cái

khung xe, một đầu con búp bê. Khung xe cho bố mẹ, búp bê là quà cho con. Sĩ

quan thì đi xe ô tô. Đến các bến phà thì lính cũng như quan dừng cả lại để chờ

phà sang sông. Lính nhòm vào xe quan, thấy không phải khung xe đạp, mà ti vi,

tủ lạnh, quạt điện…

Hồi ấy có câu: “ Miền Nam nhận họ, miền Bắc nhận hàng”. Một cách

chơi chữ thật thần tình.

Sau chuyến đi này, tôi còn có nhiều dịp vào Sài Gòn và các tỉnh đồng

bằng Sông Cửu Long. Nhìn chung người nông dân miền Nam ăn ở rất luộm

thuộm, tuỳ tiện. Nhà nếu không lợp tôn thì lợp lá. Mái rất mỏng, vách cũng ghép

bằng lá. Nền đất lụp sụp, tối tăm, ẩm thấp. Chung quanh cỏ mọc um tùm. Nhà

vệ sinh làm ngay cạnh đường đi quay lưng ra những kênh rạch. Không kín đáo

gì cả. Người ngồi hở mặt nhìn ra đường. Ngay ở Sài Gòn cũng vậy. ở những

xóm nghèo, thấy nhiều nhà chỉ ghép bằng những mảnh gỗ thùng, đóng đinh.

57

Chỗ đi tiểu có khi đặt ngay giữa nhà. Đồ đạc bên trong thì đủ cả ti vi, tủ lạnh, xe

máy, nhưng nhà cửa thì cứ tạm bợ vậy. Những con kênh chảy qua thành phố thì

hôi thối. Bờ kênh chen chúc những túp lều dựng ngay trên những đống rác,

chuột bọ chạy lung tung. Cầu tiêu bắc ngay ra giữa kênh, đàn bà đi tiêu giữa ban

ngày, chỉ lấy cái nón che…

Quan sát cảnh vật và sinh hoạt của con người từ Bắc vào Nam, tôi nảy ra

ý khái quát này: từ Bắc vào Nam là đi từ miền đất nghèo đến nơi giầu có, từ chỗ

hàng năm hễ gặp hạn hán hay lụt lội là đói khát, đến nơi dường như sờ đâu cũng

có cái ăn, cây trái, tôm cá ê hề, muốn chết đói cũng khó.

Nhưng mặt khác, đi từ Bắc vào Nam là đi từ nơi văn hoá cao đến nơi văn

hoá thấp.

Quan sát sinh hoạt, còn thấy người Nam chịu ảnh hưởng Tầu rất rõ,

nhưng là Tầu bình dân, như thích màu sắc thật tươi: xanh, vàng, đỏ. Nhiều món

ăn gốc Tầu. Ngôn ngữ của người bình dân Nam bộ một mặt hết sức nôm na, chất

phác ( ruột, vỏ xe, hộp quẹt…vv…) một mặt lại hay pha chữ Hán (nóc gia, con

lộ, quá giang, khổ qua, đau bao tử, làm đại đi,..vv…) Chùa chiền đặt ngay bên

đường cái, quét vôi xanh xanh đỏ đỏ. Tượng Phật Bà đứng, nằm lồ lộ không kín

đáo gì cả. Tiểu thuyết Tầu ( Tam quốc, Thuỷ hử, Chinh Đông chinh Tây…) và

các loại truyện võ hiệp Tầu ảnh hưởng rất sâu vào văn chương Nam Bộ. Nhiều

cây bút đầu thế kỷ XX phỏng theo truyện Tầu, viết về những Phàn Lê Huê, Tiết

Nhân Quý, Tiết Đinh San…vv… Tiểu thuyết của Bửu Đình, Phú Đức thì bao

giờ cũng xen vào những pha võ hiệp ly kỳ, giật gân… Các nhân vật tiểu thuyết

Tầu còn nhập hẳn vào văn chuơng bình dân Nam Bộ thành nhân vật trong vè, ca

dao, dân ca…

Miền Bắc cũng ảnh hưởng Tầu rất sâu, nhưng chủ yếu không phải văn

chương bình dân, tiểu thuyết bình dân, mà khai thác văn chương bác học, đặc

biệt là thơ Đường, thơ Tống…

Như thế là, về sự tiếp nhận văn hoá Trung Hoa, từ Bắc vào Nam, vẫn là đi

từ nơi văn hoá cao đến miền văn hoá thấp.

Cho nên thời nào cũng vậy những tác gia văn học lớn, những sự kiện văn

học lớn thường xuất hiện chủ yếu ở ngoài Bắc: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ

Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Tú Xương,

Tản Đà, Thơ mới lãng mạn( 1932-1945), Tự lực văn đoàn, Nguyễn Tuân, Vũ

Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Nguyễn Minh Châu,

Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài… vv… Những cây bút xuất sắc của Sài Gòn

trước 1975 phần lớn cũng là người miền Bắc, miền Trung di cư vào.

Cho nên chủ nghĩa thực dân xâm nhập vào miền Nam rất sớm, ngay từ

cuối thế kỷ XX. Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trọng Quản đã là những trí thức Tây

học và đã viết văn quốc ngữ theo bút pháp phương Tây hiện đại. Như vậy là cái

tôi cá nhân đã có điều kiện thức tỉnh rất sớm. Vậy mà tiếng nói văn chương của

nó phải đợi đến những năm 30 của thế kỷ XX mới thực sự ra đời với văn thơ

miền Bắc. ở Nam bộ, theo Xuân Diệu, cái tôi cá nhân chỉ có thể cất lên thành ca

cải lương trên cơ sở nhạc tài tử ở miền Lục tỉnh.

58

Nhà văn đích thực của Nam bộ cao nhất chỉ đến Nguyễn Đình Chiểu, Hồ

Biểu Chánh, Phi Vân, Sơn Nam, Nguyễn Quang Sáng. Văn Anh Đức thì nhiều

chỗ như văn cải lương, đồng thời lại bị Bắc hoá. Nguyễn Thi tuy là người Bắc

nhưng lại xứng đáng được coi là tiếng nói văn chương đích thực của nông dân

Nam bộ thời chống Mỹ.

Gần đây xuất hiện Nguyễn Ngọc Tư ( Cánh đồng bất tận) và Mạc Can (

Tấm ván phóng dao). Văn Nam bộ hay nhất không ở tư tưởng mới lạ mà ở thứ

ngôn ngữ địa phương bộc trực, chắc khoẻ, góc cạnh, đầy sức sống. Nhưng các

tác giả thường lạm dụng thứ ngôn ngữ ấy khiến văn của họ trở nên thiếu trong

sáng, khó đạt tới trình độ chuẩn mực cổ điển.

7. Cố dô Huế và quý tộc Huế

Sau 1975, tôi cũng có nhiều dịp vào Huế, hoặc để dạy cho Đại học sư

phạm Huế, hoặc để dự những lớp tập huấn giáo viên phổ thông trung học về

chương trình và sách giáo khoa cải cách giáo dục.

Huế có những đặc điểm rất dễ thấy. Huế là đất cố đô, nên người Huế rất

tự hào về quê hương mình như một trung tâm chính trị, văn hoá. Nhưng Huế lại

lọt vào giữa hai cái đèo cao: Đèo Ngang và Hải Vân, nên tâm lý người Huế có

một cái gì hẹp hòi, co lại, địa phương chủ nghĩa, nghĩa là vẫn một thứ tâm lý

tỉnh nhỏ, không có tầm văn hoá toàn quốc.

Đất kinh đô, nhưng hẹp và nghèo. Thiên nhiên cũng không có gì to tát,

hùng vĩ: “ Sơn bất cao, thuỷ bất thâm”. Từ cách ăn mặc, nói năng, đi đứng, ăn

uống, người Huế tỏ ra rất quý tộc, nghĩa là cầu kỳ, đài các. Nhưng là quý tộc

nghèo. Nguyễn Tuân đã liệt kê ra mười hai thứ muối của người Huế. Cầu kỳ,

tinh vi, đài các đấy, nhưng mà tinh vi ăn muối. Huế là đất có rất nhiều thứ bánh

cũng rất tinh vi cầu kỳ, nhưng tất cả đều làm bằng bột sắn, trong Nam gọi là

khoai mỳ, một loại bột rất rẻ tiền. Có thứ bánh gọi là bánh bèo, nhỏ chỉ bằng

móng tay, đặt trong những chiếc đĩa cũng nhỏ tý xíu. Ăn thứ bánh này, phải làm

cả một mâm may ra mới no được. Cũng là một thứ đài các của quý tộc nghèo.

Huế từng là kinh đô. Người Huế là người kinh đô, nhưng không có tư

cách người kinh đô thật sự, nghĩa là tiêu biểu cho cả nước. Người Huế không

được các địa phương khác quý mến. “ Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay co,

Bình Định hay lo, Thừa Thiên ních hết”. Người Quảng Bình, Quảng Trị, Đà

Nẵng, Quảng Nam đều rất ghét dân Huế. Tôi cũng không ưa người Huế, đúng ra

là không ưa đàn ông Huế:

Sơn bất cao,

Thuỷ bât thâm;

Nam đa trá,

Nữ đa dâm.

Nguyễn Văn Hạnh nói, tôi làm hiệu trưởng Đại học Huế mấy năm mà

không hiểu được bụng dạ người Huế thế nào. Hôm trước vừa phong một anh là

chiến sĩ thi đua, vì rất tiến bộ, rất tích cực công tác. Hôm sau được tin anh ta đã

vượt biên rồi!

59

Viết về Huế, tôi cho có hai cây bút xuất sắc nhất. Một là Phan Du viết rất

hay về tầng lớp quý tộc Huế thất thế, rơi vào tình trạng bần cùng, tuy thực chất

thì rất bệ rạc nhếch nhác, nhưng vẫn làm ra vẻ quý tộc- một thói sĩ diện hão, đài

các rởm nên trở thành hài hước. Hai là Hoàng Phủ Ngọc Tường, tuy không phải

người Huế, nhưng viết rất hay về vẻ đẹp của cảnh và người xứ Huế.

Cảnh Huế thì đẹp thật. Đẹp một cách dịu dàng, thơ mộng. Dòng sông

Hương quả là độc đáo, một dòng sông êm đềm trôi giữa thành phố, soi bóng

những đền chùa, lăng tẩm, những đồi thông, ruộng lúa, nương ngô…

Tôi đã được đi thuyền nhiều lần trên sông Hương, ghé vào thăm lăng tẩm

các vua chúa, nghe ca Huế. Tôi cũng đã nhiều lần được vào Đại Nội và xem

biểu diễn vũ đạo cung đình.

Có lẽ Hoàng Phủ Ngọc Tường là người hiểu Huế và yêu Huế hơn ai hết.

Anh cố gắng gắn Huế với lịch sử lâu đời của dân tộc – không phải từ thời Chúa

Nguyễn vào đất Phú Xuân – mà từ thuở Bà Trưng, Bà Triệu, đời Lý, đời Trần.

Anh lại gắn Huế với Nguyễn Du và Truyện Kiều, và lắng nghe như thấy vọng

về, qua giọng ca Huế, tiếng đàn thánh thót của Thuý Kiều: “ Trong như tiếng

hạc bay qua, Đục như nước suối mới sa nửa vời…”

Bài “ Ai đã đặt tên cho dòng sông” của anh có thể xem là một áng văn

tuyệt đẹp. Anh không những nói về Huế – văn hoá, Huế – thơ mộng, mà còn

phát hiện Huế – anh hùng từ thời viễn cổ từng bảo vệ biên thuỳ phía Nam của

nước Đại Việt. Anh đã làm sang nhiều cho Huế.

Nhưng tôi thì thích Huế vừa vừa thôi.

Huế tham quan ít ngày thì thích, ở lâu thì buồn, ở mãi thì chán. Hồi

Nguyễn Văn Hạnh làm hiệu trưởng Đại học Huế có thuyết phục tôi vào với anh.

Anh nói, qui luật phát triển của dân tộc ta là vô Nam, là Nam tiến. Vào Huế với

anh là đúng qui luật.

Nhưng tôi đã từ chối. Và đó là một quyết định đúng.

* *

*

Viết xong phần I tập hồi ký này, tôi đưa cho một anh bạn thân của tôi là

Phạm Luận, cán bộ giảng dạy trường Đại học Sư phạm Việt Bắc xem thử.

Luận đọc xong, nhận xét: “Những chuyện tình của cậu cũng chỉ đơn giản

thế thôi à?”

Tôi nghĩ bụng, hồi trẻ, đúng là những cuộc tình của tôi chỉ đơn giản có thế

thôi. Thậm chí có khi chỉ là thứ tình đơn phương – “Có gửi tình đi, chẳng có về”

(Xuân Diệu). Hồi ấy tôi thường vận dụng cái gọi là phép thắng lợi tinh thần của

AQ để tự an ủi: Những cô gái nào kia không có đôi mắt xanh để “Anh hùng

đoán giữa trần ai mới già”. Họ chỉ nhận ra được người anh hùng khi anh hùng

đã là anh hùng.

Nhưng có điều này rất lạ là khi về già thì tôi lại được nhiều cô gái mến,

thường là sinh viên cao học hay nghiên cứu sinh.

60

Có một sinh viên cao học (DT), khoảng ngoài ba mươi tuổi, vốn là giáo

viên ở một tỉnh miền trung, tha thiết nhờ tôi hướng dẫn làm luận văn. Trong suốt

quá trình làm luận văn, tôi hoàn toàn không nhận biết gì về tình cảm của cô đối

với tôi (chắc đã có những biểu hiện nào đấy, nhưng tôi không để ý). Cho mãi

đến khi cô bảo vệ xong luận văn, một buổi tối đến từ biệt tôi để ra về, tôi cũng

không biết gì. Cô tặng tôi một cái cặp da và một cái dây lưng. Tôi tiễn cô ra

cổng. Chúng tôi đứng với nhau trên một khoảnh sân nhỏ, cạnh cái cổng sắt. Đột

nhiên cô nói: “Thầy cho em hôn thầy một cái”, nói rồi ôm hôn tôi luôn. Chuyện

này không may vợ tôi biết được. Những ảnh cô này chụp với tôi đều bị xé tan

hết.

Từ thực tế này, tôi rút ra kết luận về sự khác nhau giữa tư duy của nam và

nữ: Nữ rất mạnh về tư duy trực cảm. Một thằng con trai yêu một cô gái, đến với

cô ta, dù chưa dám có biểu hiện gì rõ rệt, cô ta đã biết ngay anh chàng này đến

để tán mình đây. Ngược lại, thằng đàn ông chỉ mạnh về tư duy luân lý. Con gái

yêu mình, nếu không nói rõ ra thì hắn vẫn chẳng biết gì cả. Nghĩa là tư duy trực

cảm rất tồi. Nhưng tư duy trực cảm có nhược điểm: không sâu sắc. Cho nên ca

dao có câu:

Đàn ông nông nổi giếng khơi,

Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu.

Ngoài ra, có hai cô gái, một người Việt (NT), một người Mỹ (NMP), cùng

thổ lộ tâm sự với mấy người bạn của tôi: “Thầy Mạnh mà còn trẻ thì em yêu

thầy ấy đấy”. Cô người Mỹ thì khi về nước có gửi thư điện tử cho Dương Thu

Hương và Nguyễn Thị Bình: “Ông Mạnh mà còn trẻ thì là một người nguy hiểm

đấy, em phải lòng ông ấy mất – cô viết tiếng Pháp (tomber amoureuse)

Không biết tôi có nên tự hào về cái duyên muộn mằn ấy không?

Có điều này thì tôi thật sự tự hào: những người đọc văn tôi và những học

trò nghe tôi giảng bài, đều nhận xét, đó là văn và lời giảng của một người chưa

già. Có lẽ con người tự nhiên của tôi nó thế: tôi không thích trò chuyện với

người già, dù những người gọi là già này có khi còn kém tôi đến dăm, bảy tuổi.

Họ cũng hay nói đùa đấy, nhưng vẫn là kiểu đùa của người già. Tôi chỉ thích

chơi với đám trẻ, ngồi tán chuyện với nhau, tưởng tượng ra những chuyện rất

tếu, nhiều khi vô nghĩa lý để cười với nhau một cách thoải mái.

Quan Hoa ngày 10 – 5 – 2006

 


Phần hai – Hoạt động nghiên cứu, phê bình văn học . Một số thành tựu

62

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s