hồi ký nguyễn đăng mạnh (chương 4)

Chương IV: Từ dạy học đến nghiên cứu, phê bình văn học

Tôi bắt đầu nghiên cứu phê bình văn học từ khi được giữ lại trường đại

học làm cán bộ giảng dạy (1960)

Như đã nói, hồi ấy chúng tôi coi đại học là một cái gì thiêng liêng lắm. Vì

thế được dạy đại học là danh giá lắm;  ấy là được làm cái công việc của những

Trần Đức Thảo, Đặng Thai Mai, Nguyễn Mạnh Tường… kia mà! Tâm lý những

người như chúng tôi lúc bấy giờ rất lo lắng. Người nào cũng ngầm hứa với mình

phải quyết tâm, cố chí vươn lên.

Nghĩa là phải học, phải đọc, phải nghĩ, phải tìm

hỏi các bậc đàn anh, hỏi bất cứ ai hiểu biết hơn mình để chiếm lĩnh cho được

kiến thức ở tầm cao. Không xấu hổ. Có gì mà xấu hổ! Vả lại người ta có khinh

mình thì cũng có oan ức gì đâu: đào tạo ba năm ở trong nước, nam nhân lại dạy

nam nhân, đúng là “cơm chấm cơm”, có người gọi là phổ thông cấp bốn! Vậy

mà cũng dạy đại học! Thương cho cái nước mình! Nghèo và dốt. Đến cái thứ

mình mà cũng dạy đại học! Thương nước và thương mình! Vậy thì phải cố, vượt

lên được chút nào hay chút ấy.

Hồi ấy chúng tôi rất kính sợ những người được học ở đại học nước ngoài,

được nghe những giáo sư Tây, giáo sư Tầu giảng bài. Như Lê Huy Tiêu, Bùi

Văn Ba, Trần Xuân Đề, Phan Hữu Nghệ, Phan Huy Luận, ở Trung Quốc về, như

Từ Đức Trịnh, Nguyễn Văn Giai ở Liên Xô về. Từ Đức Trịnh đang học dở dang

ở đại học Liên xô thì phạm kỷ luật, bị đuổi về nước, dạy văn học Nga Xô viết ở

Đại học Sư phạm Vinh. Trần Gia Linh, học đại học cùng khoá với tôi, cũng

được điều vào Vinh dạy Văn học Nga Xô Viết. Anh nói trịnh trọng trước một

hội nghị khoa văn: “Tôi học suốt đời cũng không hết chữ của anh Trịnh”.

Nguyễn Văn Giai cũng tốt nghiệp đại học Liên xô. Ngó vào phòng riêng của

anh, thấy một bộ Pouchkine toàn tập gáy da chữ vàng xếp kín cả một ngăn giá

sách. Sợ quá! Uyên bác quá! Anh đeo kính cận nặng, thường đi đi lại lại trước

sân khu nhà tập thể, đầu ngẩng cao, bộ mặt đăm chiêu. Hẳn là đang suy nghĩ

điều gì to tát, sâu sắc lắm.

Đến khi lớp phó tiến sĩ đầu tiên ở Liên xô về nước như Nguyễn Tài Cẩn,

Nguyễn Đức Nam, Tôn Gia Ngân, Nguyễn Văn Hạnh, Hoàng Ngọc Hiến… thì

chúng tôi không phải chỉ nể trọng mà còn coi như những đại trí thức. Chúng tôi

thường gọi là những ông “phó nghè”. Họ thuộc đẳng cấp khác hẳn, mình không

thể vươn tới được.

Tôi nhớ trong một cuộc hội nghị khoa học ở Đại học tổng hợp Hà Nội vào

đầu những năm 60 thế kỷ trước, anh Đinh Gia Khánh có đọc một bài nghiên cứu

về văn học dân gian. Đọc xong, anh rụt rè hỏi anh Nguyễn Tài Cẩn:“Thưa anh,

như thế có thể gọi là khoa học được không ạ?” Cũng giống như thế, trong một

cuộc hội thảo khoa học bàn về phương pháp luận nghiên cứu văn học, của Đại

học sư phạm Vinh, lúc đó sơ tán ở Quỳnh Lưu, anh Bùi Văn Nguyên, sau khi

đọc xong một báo cáo khoa học, cũng hỏi anh Nguyễn Đức Nam: “Thưa anh,

63

như thế có thể gọi là phương pháp luận được không ạ?”

Coi đại học là thiêng liêng, khoa học là một cái gì rất cao xa, đồng thời tự

thấy mình là hèn kém, theo tôi, đấy là một trạng thái tâm lý rất có ích cho những

cán bộ trẻ mới bước vào hoạt động khoa học như chúng tôi. Không biết các anh

cùng lứa với tôi ở Đại học Sư phạm hay Đại học tổng hợp Hà Nội có tâm lý ấy

không, nhưng những thế hệ trẻ của ngày hôm nay thì rất khác. Hầu như không

có tâm lý ấy nữa. Họ coi đại học chẳng có gì ghê gớm cả. Nhiều sinh viên được

giữ lại trường làm cán bộ giảng dạy đã từ chối. Khoa học cũng vậy, ai làm chẳng

được. Ông Hoàng Ngọc Hiến nói, dắt con bò sang Liên Xô nó cũng đỗ phó tiến

sĩ kia mà! Anh Hiến thường có lối nói hết sức cực đoan như thế. Nhưng nhìn

vào sự thật, thấy quả cũng có nhiều trường hợp khiến người ta thấy lời anh Hiến

không phải hoàn toàn vô căn cứ: phó tiến sĩ, tiến sĩ ở Liên Xô, ở Đức về hoặc

các vị tốt nghiệp ở các trường đại học lớn ở Trung quốc, quả có một số chẳng

giỏi giang gì thật, thậm chí rất kém nữa.

Thế là coi thường tuốt. Gần đây, hàng năm, riêng khoa văn Đại học Sư

phạm Hà Nội cứ sản xuất đều đều hàng trăm thạc sĩ, hàng chục tiến sĩ, phần

nhiều đều đạt điểm xuất sắc cả. Khoa học vì thế càng bị coi rẻ. Tâm lý này càng

được bơm to thêm bởi thói đố kỵ của khá nhiều tay trong giới làm báo gần đây,

do học hành dở dang nên muốn nhân đây cào tất cả những người có học hàm,

học vị đại học vào cái mặt bằng chung của sự dốt nát, dốt hơn cả những người

không qua đại học. Vũ Hạnh đã nói như thế khi cho rằng Trần Mạnh Hảo không

học đại học là một sự may của anh ta.

(1)

Tâm lý này hết sức nguy hại. Thực ra khoa học vẫn là khoa học nếu là

khoa học thật. ấy là con đường rất vinh quang nhưng đầy khó khăn, lắm chông

gai. Tâm lý coi đại học là thiêng liêng, khoa học là khó khăn có thể làm cho một

số người nản lòng, nhụt chí, mất tự tin. Nhưng nếu như ai đó có đủ bản lĩnh, đủ

ý chí, đủ say mê để đi vào con đường này, thì tôi tin rằng thế nào cũng sẽ đạt

được một cái gì thật sự có giá trị. Tất nhiên đạt đến mức độ nào còn tuỳ tài, tuỳ

sức của mỗi người. Mà xét đến cùng, khoa học chỉ cần đến những con người có

bản lĩnh, có ý chí, có sự say mê thực sự đối với nó mà thôi. Nó cần gì đến những

kẻ chỉ muốn thành đạt dễ dãi để dùng những mánh khoé này khác, tạo ra thứ

khoa học rởm, bằng cấp rởm…

(2)

(1)

Lời giới thiệu cuốn Văn học – phê bình, nhận diện ( Hầu chuyện các giáo sư) của Trần

Mạnh Hảo. Nxb văn học 1999.

(2)

Gần đây, do một số người ( giáo sư Hoàng Xuân Sính, anh Hoàng Ngọc Hiến) sang Mỹ tìm

hiểu về đại học cho biết, tôi mới vỡ lẽ ra rằng, té ra ở Mỹ cũng có rất nhiều tiến sĩ rởm, viện sĩ

rởm, có khi còn nhiều hơn ở nước ta.( hơn ba nghìn trường đại học, chỉ có khoảng một trăm

trường có chất lượng và độ bảy trường có tầm cỡ quốc tế. Nhiều luận án tiến sĩ không đáng

điểm không ( zéro ) – bà Hoàng Xuân Sính nói thế. Nhưng khác với ta, họ không sử dụng loại

bằng cấp rởm. ở nước ta thì không phân biệt gì cả.

64

Tôi muốn là anh chàng Julien Sorel của Stendhal với cái ý chí quyết liệt

muốn vươn lên kia. Tự thấy mình chỉ là một kẻ tầm thường, như Julien ở đẳng

cấp thứ ba vậy thôi, nhưng quyết tấn công vào dinh luỹ của những đẳng cấp cao

hơn. Anh chàng nhà quê, con ông thợ xẻ ở thị trấn Verrières phải làm sao chinh

phục được cả những tiểu thư kiêu kỳ, đài các nhất Paris.

Nhưng phải nói cho đầy đủ rằng, sở dĩ tôi hăng hái lao vào nghiên cứu

khoa học, trước hết và trực tiếp nhất còn vì sự thúc bách của nghề dạy học. Tôi

rất yêu nghề dạy học. Hạnh phúc nhất của đời tôi là được làm cái nghề mình yêu

thích. Lâu lâu không được lên lớp, buồn lắm. Tôi vẫn định nghĩa, nghề dạy học

là nghề được nói. Nhà nước tổ chức những lớp học, tập hợp thanh thiếu niên lại

nghe mình nói hàng ngày. Tôi thường dẫn câu văn này của Nam Cao trong

truyện Lang Rận: “Nói, trao đổi những ý nghĩ, những nỗi lòng, có lẽ là cái tật

chung của loài người. Không được nói thì khổ lắm.”

Điều thú vị là với nghề dạy học, người nghe mình nói lại là một đối tượng

hết sức lý tưởng, tức là những thanh niên có văn hoá, tâm hồn trong sáng. Họ có

nhiệm vụ đi học, nghĩa là đến lớp chỉ để được nghe thầy nói. Cho nên bây giờ

đây, mỗi lần lên lớp, tuy tuổi đã cao, dạy học đã hơn nửa thế kỷ, tôi vẫn rất hào

hứng, náo nức.

Nhưng không phải ngay từ những ngày đầu dạy học, tôi đã yêu nghề.

Muốn yêu nghề, điều kiện quan trọng nhất là phải dạy tốt. Nghĩa là bài giảng

phải hấp dẫn học trò. Mới lên lớp, (1951) kinh nghiệm chuyên môn chưa có,

kiến thức còn nghèo nàn, nông cạn, dạy hay làm sao được! Vì thế hồi ấy, mỗi

lần lên lớp, tâm trạng tôi rất nặng nề, chưa cảm thấy hứng thú gì. Bài giảng hay

trước hết phải có nội dung hay, nghĩa là có ý mới, ý riêng, chính xác và sâu sắc.

Đối với đại học, yêu cầu này càng cao. ở cấp học này mỗi bài giảng phải là một

công trình nghiên cứu thật sự. Tất nhiên trong cách truyền đạt cũng có một số

thủ thuật này khác tạo thêm sự hấp dẫn. Nhưng đó chỉ là những yếu tố rất phụ,

không thay thế được nội dung khoa học của bài giảng.

Như vậy là, soạn bài giảng và nghiên cứu khoa học là hai công việc luôn

luôn đi sóng đôi với nhau trong cuộc đời người giáo viên đại học.

Vì lẽ đó, với tôi, bắt đầu dạy đại học cũng là bắt đầu nghiên cứu, phê bình

văn học.

ở đại học, tôi được phân công dạy văn học Việt Nam giai đoạn 1930-

1945. ở Sư phạm Hà Nội, dạy giai đoạn văn học này có ba người: anh Nguyễn

Trác, anh Hoàng Dung, anh Nguyễn Hoành Khung. Nhưng ở Sư phạm Vinh, chỉ

có một mình tôi. Mà phải soạn nhanh, soạn gấp, dạy ngay. Vất vả thật đấy,

nhưng chính nhờ thế mà tôi chiếm lĩnh được văn học giai đoạn này khá nhanh. ở

lại đại học giữa năm 1960, năm 1961 mới bắt đầu lên lớp, vậy mà năm sau

(1962 ), tôi đã tham gia viết giáo trình chính thức với các anh ở Hà Nội (Giáo

trình Lịch sử Văn học Việt Nam 1930 – 1945 Tập V) Nxb Giáo dục in năm

(1963). Đến 1973 thì được giao làm chủ biên viết lại giáo trình này. Từ văn học

1930 – 1945, tôi mở rộng dần đối tượng nghiên cứu sang thời kỳ sau cách mạng

Tháng Tám, và đến cuối những năm 80 thì được giao làm chủ biên bộ giáo trình

65

Lịch sử văn học Việt nam 1945 – 1975 ( hai tập ) Nxb Giáo dục in năm 1989.

Giai đoạn văn học 1930 – 1945 có một hiện tượng đặc biệt: sự xuất hiện

hàng loạt cây bút tài năng, có cá tính, phong cách độc đáo. Vì thế tôi đặc biệt tập

trung nghiên cứu các nhà văn này. Những công trình nghiên cứu của tôi phần

lớn là những tiểu luận về họ: Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng

Phụng, Nguyên Hồng, Ngô Tất Tố, Nam Cao, Tô Hoài, Xuân Diệu, Chế Lan

Viên, Hoài Thanh, Hoàng Cầm..vv… Tiếp tục theo hướng ấy, tôi nghiên cứu các

nhà văn sau cách mạng như Nguyễn Đình Thi, Quang Dũng, Chính Hữu,

Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyên Ngọc, Nguyễn Thi, Dương Thu

Hương, Nguyễn Huy Thiệp, Trần Đăng Khoa.

Ngoài ra còn có điều này nữa khiến tôi say mê nghiên cứu khoa học: tôi

hình như có cái máu thích tìm tòi khám phá, cho nên bắt đầu ở lại đại học (1960)

ngoài việc nghiên cứu để giảng dạy, tôi lao luôn vào việc tìm hiểu và giải quyết

các vấn đề đặt ra lúc bấy giờ về hai ông Nguyễn Tuân và Vũ Trọng Phụng. Phải

nói rằng đây là hai đối tượng tôi nghiên cứu sớm nhất và say mê hơn cả. Từ

Vinh phóng ra Hà Nội, suốt ngày bám lấy các thư viện ( thư viện quốc gia, thư

viện khoa học xã hội, thư viện của viện văn, viện sử…) hăm hở đọc các ông ấy

từ sách đến các bài báo. Hồi Pháp thuộc, các nhà văn như Nguyễn Tuân, Vũ

Trọng Phụng, Ngô Tất Tố..vv… thường đăng bài trên đủ các thứ báo với những

bút danh khác nhau, kể cả những tờ báo nhỏ của địa phương như Tuần lễ, Thanh

Nghệ Tĩnh tân văn chẳng hạn… Đọc và ghi hết. Rồi chạy đi hỏi những người có

quen biết Nguyễn Tuân và Vũ Trọng Phụng như Đồ Phồn, Như Phong, Vũ Đình

Liên, Lưu Trọng Lư, Tô Hoài, Kim Lân, Nguyên Hồng, Hoài Thanh, Vũ Ngọc

Phan, Nguyễn Lương Ngọc, Trần Minh Tước… Lại hỏi các bậc đàn anh trong

giới lý luận phê bình, nghiên cứu văn học về các khái niệm liên quan đến

Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng như khái niệm phong cách, chủ nghĩa tự

nhiên… Rồi tìm ảnh hưởng của các nhà văn Pháp đến hai ông này như André

Gide, Paul Morand, Emile Zola… Tiếng Pháp, tôi có giỏi giang gì đâu, nhưng

cũng cố đọc một số tác phẩm của các nhà văn này. Đọc cả Nietzsche (

Zarathousta) vì thấy có liên quan đến cái ngông của Nguyễn Tuân..vv…

Nghiên cứu Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng để làm gì? Viết báo, viết sách

về hai vị này rất khó. Vì hồi ấy người ta quy cho các ông này lắm tội lắm: Văn

Nguyễn Tuân thì phù phiếm, có người còn gọi là văn cô đầu thuốc phiện, đùa

cợt với chính trị, lắm cái rớt… Vũ Trọng Phụng, thì sau vụ Nhân văn, bị quy là

chống cộng, tự nhiên chủ nghĩa, chỉ có tài xỏ xiên, Giông tố thì ăn cắp Lôi vũ

của Tào Ngu – một vị uỷ viên bộ chính trị ( Hoàng Văn Hoan ) đã phán như thế.

Đúng là tôi cứ thích húc vào những đối tượng phức tạp như vậy, chả để

làm gì cả. Yêu cầu dạy học không có, chương trình môn văn từ phổ thông đến

đại học hồi ấy đều tránh các nhà văn này như những vùng cấm địa. Nếu có nhắc

đến đôi chút thì cũng chỉ để lên án mà thôi. Sau vụ Nhân văn, không ai nghĩ đến

chuyện viết sách về các ông này. Viết báo còn khó, nói gì viết sách.

Tôi nhớ, lúc ấy có một anh bạn xui tôi thế này: cậu dại lắm, muốn viết

báo, viết sách thì phải nghiên cứu những cây bút cách mạng như Hồ Chí Minh,

66

Tố Hữu, Sóng Hồng, Lê Đức Thọ, Xuân Thuỷ..vv… hay các nhà văn hiện thực

tiến bộ như Ngô Tất Tố, Nam Cao chứ. Như ông Đệ, ông Đức đấy thôi, cứ in

sách tơi tới.

Tôi nghe ông bạn, quay sang nghiên cứu thơ Hồ Chí Minh. Lập tức đăng

bài liên tiếp: Mong manh áo vải hồn muôn trượng, Những bài thơ quên mình

của Bác, Cuộc đời cách mạng thật là sang ! Vài suy nghĩ nhỏ về một phong cách

lớn, Đọc văn chính luận của Hồ Chí Minh, Trần mà như thế kém gì tiên, Pác Bó

hùng vĩ..vv… Và cuốn chuyên luận đầu tiên của tôi được xuất bản là cuốn Mấy

vấn đề về quan điểm và phương pháp tìm hiểu, phân tích thơ Hồ Chủ Tịch. (Đại

học Sư phạm in nội bộ năm 1978, Nxb Giáo dục in năm 1981)

Nhưng trong đời nghiên cứu văn học của tôi, tôi có kinh nghiệm này: khi

anh nghiên cứu nghiêm túc một đối tượng nào thực sự có giá trị, thì trước sau

thế nào cũng được dùng đến, ít ra thì bản thân anh cũng nhờ đó mà trưởng thành

lên. Đối tượng càng khó khăn, phức tạp thì thành công càng vang dội, ảnh

hưởng càng xa rộng.

Năm 1968, chị Thiếu Mai, hồi ấy làm ở Tạp chí văn học, đặt tôi viết về ký

chống Mỹ của Nguyễn Tuân. Tôi đã vận dụng những gì từng nghiên cứu về sự

nghiệp của nhà văn này vào việc tìm hiểu những bài ký chống Mỹ của ông. Một

bài phê bình mà nền tảng là sự đào sâu vào qui luật vận động tư tưởng và phong

cách của nhà văn từ ngọn nguồn thời “tiền chiến” của ông. Bài này được Hoài

Thanh đánh giá rất cao. Ông đưa cho anh Cao Huy Đỉnh bài viết vừa duyệt xong

và nói: “ Phê bình văn học hiện đại phải viết như thế này này.” Bài phê bình đầu

tiên này của tôi tuy bị lãnh đạo hồi ấy cho là có vấn đề quan điểm, nhưng đến

năm 1980, thời thế đổi thay, chính nhờ bài ấy mà tôi được giao làm Tuyển tập

Nguyễn Tuân và đến năm 2000 thì làm Nguyễn Tuân toàn tập ( Nxb Văn học ).

Công trình của tôi về Nguyễn Tuân không chỉ được đọc trong nước. Nó còn

được in lại ở Pháp và Canada. Và riêng đối với Nguyễn Tuân tôi được ông đặc

biệt tin cậy.

Về Vũ Trọng Phụng, bài tiểu luận công phu và đắc ý nhất của tôi là bài

Mâu thuẫn cơ bản trong thế giới quan và trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng,

cũng viết năm 1968, nhưng đến 1971 mới được đăng trên Tạp chí văn học. Đây

cũng là một bài tiểu luận được viết trên cơ sở nghiên cứu toàn bộ sự nghiệp của

nhà văn được nghiền ngẫm từ mười năm trước. Hoài Thanh cũng thích bài này,

tuy Vũ Đức Phúc không tán thành về quan điểm. Chế Lan Viên cũng đánh giá

cao. Hôm ấy gặp anh ở trụ sở Hội nhà văn ( 65 Nguyễn Du ), anh chạy ra bắt tay

tôi và khen bài viết rất hay. Bài này cũng lập tức bị phê phán về quan điểm,

nhưng đến năm 1987, đất nước đổi mới, tôi lại được giao làm Tuyển tập Vũ

Trọng Phụng ( Nxb Văn học ) và đến năm 1999 thì làm Vũ Trọng phụng toàn

tập ( Nxb Hội nhà văn ).

Vậy là cuối cùng, hai ông nhà văn phức tạp và “có vấn đề” nhất kia lại

chính là những người đã giúp tôi khẳng định được vị trí chắc chắn của mình

trong giới nghiên cứu, phê bình văn học.

Từ cuối những năm 60 sang những năm 70, 80 của thế kỷ trước, tôi viết

67

liên tục, đầy hào hứng, từ viết báo đến viết sách. Viết ngày, viết đêm. Đúng là

có những đêm tôi không hề chợp mắt. Hồi ấy đời sống hết sức khó khăn. Cán bộ

khoa văn Sư phạm Hà Nội chủ yếu sống tập trung ở hai dẫy nhà lá, nền đất, vách

đất gọi là K2, K3. Cả gia đình tôi sống chen chúc trong một gian nhà vẻn vẹn có

mười mấy mét vuông. Nước khan hiếm. Sáng sớm mọi người lục tục đem xô,

đem chậu ra xếp hàng hứng nước ở một cái vòi công cộng. Tôi mượn được một

gian bên cạnh của một anh bạn có nhà ở Hà Nội, để trống, ngồi viết từ chập tối

cho đến khi nghe tiếng xô, chậu loảng xoảng ở vòi nước thì mới buông bút, xách

xô chạy vội ra xếp hàng. Năm ấy ( 1973 ) vì làm việc quá sức lại không có gì bồi

dưỡng, tôi đã bị lao phổi phải nằm ở bệnh viện A gần năm tháng. Năm 1980,

được giao làm Tuyển Tập Nguyễn Tuân, tôi cũng rất ham hố. Phải viết sao cho

xứng đáng với Nguyễn Tuân, nghĩ thế, tôi miệt mài viết đêm viết ngày. Bài Tựa

Tuyển Tập chỉ có 70 trang mà tôi viết tới 6 tháng – tất nhiên cũng có viết xen

vào vài bài báo nhỏ nữa. Sáu tháng ngồi cặm cụi hầu như không rời ghế, tôi bị

xuống máu chân. Hôm ấy, chợt nhìn xuống chân, thấy phù hẳn lên, tôi hoảng

quá.

Thời gian từ khoảng 1970 đến 1985, tôi còn hai lần bị chảy máu dạ dày.

Một lần ở Sài Gòn, một lần ở Hà Nội. Nhưng ra viện, tôi lại viết, viết liên tục

không ngừng không nghỉ. Ngay trong những ngày nằm viện tôi cũng tranh thủ

viết. Không viết thì cũng đọc sách vở, tài liệu và suy nghĩ trăn trở để chuẩn bị

viết.

Vì sao có sự miệt mài, hăm hở như thế?

Tôi cho rằng có hai nguồn động viên chính: một là được học sinh, sinh

viên yêu quý, hai là được nhiều nhà văn khuyến khích.

Như trên đã nói, hai công việc dạy học và nghiên cứu phê bình có quan hệ

với nhau. Nhưng nói cho chặt chẽ hơn thì hai công việc ấy chỉ quan hệ với nhau

về nội dung khoa học chứ không hẳn đồng nhất về phương pháp và hình thức

diễn đạt. Không ít người nghiên cứu thì tốt, viết cũng hay, nhưng dạy thì không

hấp dẫn. Ngược lại có nhiều người dạy thì hấp dẫn nhưng viết lại rất nhạt – vì

văn viết và văn nói rất khác nhau, vả lại đối tượng thuyết phục cũng không hoàn

toàn là một.

Tất nhiên trước hết phải có nội dung tốt đã. Nội dung tốt có nghĩa là phải

có ý mới, ý riêng, chính xác và sâu sắc. Đối với sinh viên đại học, ý mới, ý riêng

phải vượt lên trên tầm tư duy của họ – ý mới mà chỉ ngang tầm tư duy của học

trò thì tuy họ cũng có thể thích nhưng chưa thể thoả mãn về nhận thức. Tôi đã

thấy có nhiều cán bộ giảng dạy thích phô bầy những tài liệu mới lạ, vì biết rằng

sinh viên không có điều kiện đọc được. Như thế đâu phải là vượt tầm sinh viên,

chẳng qua chỉ vì họ không có điều kiện đọc được những tư liệu ấy mà thôi. ở đại

học, bài giảng hay nhất là làm sao, trên cùng một tư liệu, một văn bản, thày và

trò đều được đọc, được biết, mà phát hiện ra những điều mà trò dù có nghĩ cũng

không nghĩ ra được. Vì tầm hiểu biết và nhất là tầm tư duy khoa học của họ thấp

hơn. Dạy đại học gần nửa thế kỷ, tôi nghiệm thấy, sinh viên rất chờ đợi ở người

thầy những phát hiện tầm cỡ như thế. Tất nhiên tôi không nói những loại sinh

68

viên lười biếng, chả chịu học hành gì. Trên đời, con người ta có nhiều thứ khoái

cảm, trong đó có một thứ khoái cảm rất trí tuệ khi đầu óc được soi sáng bởi một

ý tưởng nào đó có ý nghĩa năng tầm nhận thức của mình lên một bước mới. Đó

thường là những ý khái quát chính xác, sâu sắc, kết quả của một phương pháp tư

duy mới mẻ, khoa học.

Tôi cho rằng đến lớp chỉ nên trình bày những ý tưởng như thế mà thôi.

Những nội dung khác của bài giảng tuy cũng quan trọng, nhưng vì sinh viên tự

mình hiểu được, nên chỉ cần hướng dẫn họ tự tìm tài liệu mà đọc.

Tất nhiên, những ý tưởng sâu sắc, mới mẻ nói trên, phải diễn đạt sao cho

sinh viên hiểu được, nếu không thì làm sao họ có thể hưởng được các khoái cảm

nói trên.

Có người cho rằng, có những chân lý cao siêu, không thể diễn đạt giản dị,

dễ hiểu được đối với học trò. Trong phạm vi hiểu biết của tôi, tôi không tin như

thế. Nếu anh thực sự hiểu được thì thế nào cũng có cách làm cho người khác

hiểu được – người khác ở đây là sinh viên đại học chứ đâu phải loại người vô

học.

Cuối năm học 2003 – 2004, cán bộ khoa văn Đại học Sư phạm Hà Nội

đưa nhau lên tận Tam Đảo để tổng kết năm học. Hôm ấy, tôi phát biểu thế này:

Cán bộ giảng dạy đại học có thể chia làm ba loại: một là giảng rất rõ ràng, rành

mạch những chân lý giản đơn, muôn thủa, ai cũng biết cả rồi. Nghĩa là bài giảng

không làm cho sinh viên khôn thêm lên một tý nào. Hai là diễn đạt quá tối tăm

rắc rối, không ai hiểu gì cả, kể cả người giảng cũng không hiểu mình nói gì. Đây

là loại không thích nói những điều thông thường ai cũng biết, nhưng những điều

mới lạ, độc đáo lại không nghĩ ra, bèn dùng lối khoe chữ nghĩa rắc rối, khoe đọc

sách này sách khác, tiếng Tây tiếng Tầu đủ cả, tung ra một mớ hoả mù khái

niệm có vẻ uyên bác, cao siêu, thực chất đầu óc rỗng không. Loại một tuy tầm

thường, nhưng đứng đắn. Loại hai phải gọi đích danh là lừa bịp, là bất lương

trong giới đại học. Còn loại ba là những thầy giáo thực sự giỏi và trung thực. Họ

truyền đạt cho học trò một cách dễ hiểu những điều mới lạ, sâu sắc. Họ thực sự

là những nhà khoa học, đồng thời là những nhà sư phạm lương thiện. Họ nghĩ ra

nhiều điều mới mẻ sâu sắc và hiểu rõ những điều mới mẻ sâu sắc ấy, nên có

cách diễn đạt cho học trò hiểu được.

Có lẽ từ tuổi thanh niên, công tác ở Ban tài chính tỉnh đảng bộ Thái

Nguyên (1949), tôi đã được giao nói chuyện về văn học với nhiều đối tượng,

nên nói năng cũng quen. Sau này, làm nghề dạy học, ( dạy cấp II từ 1951, dạy

đại học từ 1960 ), tôi cũng rút được một số kinh ngiệm.

Kinh ngiệm của tôi là phải có một vốn từ phong phú mới có thể diễn đạt

được đích đáng những điều mình phát hiện.Trong lời giảng, những từ đích đáng

sẽ gây ấn tượng rất sâu trong tâm trí sinh viên. Hai là, dù bài giảng có hay ho thế

nào, khi mở đầu cũng không nên tạo cho sinh viên tâm thế chờ đợi một điều gì

to tát, ghê gớm cả. Đừng có khoa trương hùng biện, cứ làm cho họ có tâm lý

bình thường để chuẩn bị tiếp thu một bài giảng bình thường. Như thế khi nghe

thày nói những điều không bình thường, nghĩa là sâu sắc, mới mẻ, khoái cảm

69

của họ sẽ tăng lên gấp bội. Ba là không chỉ trình bầy các chân lí đã phát hiện

được, mà cần chỉ ra con đường đã dẫn dắt tư duy của mình tới những chân lý đó.

Bốn là trong một lớp học thế nào cũng có một vài sinh viên xuất sắc nhất được

bạn bè nể trọng. Nội dung khoa học của bài giảng phải nhằm vào đối tượng ấy,

nhưng cách diễn đạt thì phải làm sao cho cả lớp hiểu được.

Với những kinh nghiệm trên đây, tôi đã có nhiều giờ dạy thành công và

nói chung, được sinh viên hâm mộ.

Vào lớp, tôi rất ít khi kiểm tra sự có mặt của sinh viên xem có đầy đủ hay

không. Một phần vì tính tôi dễ dãi. Phần khác, tôi nghĩ, điều quan trọng là bài

giảng của anh có hấp dẫn hay không. Nếu hấp dẫn thì tự khắc họ sẽ đến đông

đủ, việc gì phải kiểm tra. Vả lại có mặt mà không thích nghe thì có mặt làm gì –

có mặt thế có khác gì để chịu một hình phạt. Những chuyên đề của tôi dạy cho

các lớp đại học, cao học, khi kết thúc, sinh viên thường nài tăng thêm giờ, thêm

buổi, nghĩa là họ chưa thấy chán. Đấy là một nguồn động viên lớn khiến tôi dạy

học say mê, hào hứng.

Nguồn động viên lớn thứ hai của tôi là sự khuyến khích của giới sáng tác.

Trong hoạt động nghiên cứu, phê bình văn học, đối tượng viết, nhất là

cách diễn đạt có khác với giảng dạy văn học. ở đây, mỗi bài viết là một cuộc đối

thoại với những tài năng văn học, trong đó có những cây bút bậc thầy. Nếu trong

giảng dạy, nội dung khoa học của bài giảng phải nhằm đáp ứng trước hết loại

sinh viên xuất sắc, thì trong nghiên cứu phê bình, khi lập ngôn, lập ý, phải nghĩ

đến những đối tượng cao nhất trong giới cầm bút như Nguyễn Tuân, Xuân Diệu,

Chế Lan Viên, Hoài Thanh, Tô Hoài, hay Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải,

Nguyên Ngọc… Mỗi bài viết phải là một nỗ lực quyết liệt nhất nhằm đạt tới bậc

thang giá trị cao nhất, tất nhiên tuỳ theo tài sức của mình. Phải viết thế nào để

sau này có muốn viết lại như thế cũng không thể được. ở đây, đúng ra còn có

chuyện cảm hứng. Không có cảm hứng thì cũng khó viết được cái gì là văn thực

sự. Nhưng cảm hứng là gì? Theo tôi, đó là sự gặp gỡ, sự đồng cảm giữa đối

tượng viết, giữa nội dung các tác phẩm được đề cập đến với chính tư tưởng của

mình, nghĩa là với những ước mơ, những kinh nghiệm sống, những yêu, ghét, cả

những căm thù của mình chứa chất, nung nấu không biết từ bao giờ. Chẳng hạn

khi tôi viết về “niềm căm uất không nguôi” của Vũ Trọng Phụng đối với cái xã

hội ông gọi là “vô nghĩa lý” ngày trước, thì tôi quả cũng có chen vào đấy niềm

căm uất của chính bản thân mình đối với những kẻ xỏ xiên, đểu giả, phản trắc

vẫn còn không ít trong xã hội ta hôm nay. Khi tôi ca ngợi câu thơ Xuân Diệu “

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”, thì thật tình tôi cũng có gửi vào lời

bình luận của mình niềm khao khát hướng tới cái đẹp vừa trần thế, trần tục, đầy

tính sắc dục, vừa trinh trắng, tinh khiết của hình tượng thơ, đồng thời không che

dấu thái độ khinh bỉ đối với những cây bút phê bình đạo đức giả nào đó từng phê

phán là “thiếu lành mạnh” một trong những câu thơ tuyệt vời nhất, lành mạnh

nhất của nền thi ca Việt Nam hiện đại.

Đặng Đức Siêu có lần nói với tôi, anh đã chảy nước mắt khi đọc bài

“Thương tiếc nhà văn Nguyên Hồng của tôi, ( đăng trên báo Nhân dân, khi nhà

70

văn vừa qua đời.) Vâng – tôi cũng nói với anh rằng, bản thân tôi cũng chảy nước

mắt khi viết những dòng thương tiếc ấy: “ Nguyên Hồng đã sống hơn sáu mươi

năm, đã viết hơn bốn mươi năm, ai biết được ông đã đổ ra bao nhiêu nước mắt

cho đời và cho nghệ thuật? Bây giờ nằm dưới ba thước đất, nguồn nước mắt ấy,

liệu có bao giờ khô cạn được chăng?” Tôi từng viết rất nhiều về Nguyễn Tuân,

nhưng lần nào cũng rưng rưng xúc động khi nói đến tấm lòng tha thiết của ông

đối với tiếng nói dân tộc, đến thái độ nâng niu trân trọng của ông đối với những

giá trị văn hoá nghệ thuật cổ truyền trên đất nước này và những gì tạo nên cảnh

sắc và hương vị độc đáo của quê hương mình, từ cành đào ngày Tết, dò hoa thuỷ

tiên nở đúng đêm giao thừa, đến cây bàng, cây sấu hết sức bình dị quen thuộc

trên hè phố Hà Nội; từ tấm bánh chưng ngày Tết, hạt cốm làng Vòng bọc lá Sen,

đến bát phở có hương và vị riêng của Hà Nội…

Thơ Hoàng Cầm không phải bài nào tôi cũng thích. Có khá nhiều bài tôi

cho là giả, là gượng. Nhưng tôi thật sự cảm động khi đọc được của ông những

vần thơ như gợi lên được linh hồn ngàn năm của đồng quê Kinh Bắc. Chẳng hạn

như bài Lá Diêu Bông. Tôi đã không cầm nổi nước mắt khi viết những dòng

này: “Lá Diêu Bông là gì? Có cái gì trên đời này gọi là lá Diêu Bông? Vậy thì

tìm đâu cho thấy lá Diêu Bông? Nhưng chính cái ý nghĩa mơ hồ của nó và cái

âm hưởng của nó sao cứ văng vẳng như là tiếng gọi, tiếng kêu, tiếng khẩn cầu

của ai đó trên cánh đồng trống vắng của một buổi chiều đông bị gió đồng thổi

bạt đi thành ra càng trở nên xa vắng hơn và nghe mơ hồ như là tiếng gió: “gió

quê vi vút gọi”.

Có phải là linh hồn của đồng quê ta cất lên thành tiếng đó không? Có

phải là linh hồn của các thôn nữ ngày xưa, của những cô Tấm, những Ngọc

Hoa, Cúc Hoa, những Xuý Vân đến chết vẫn còn vương vấn trên mảnh đất này

với niềm khao khát yêu thương đó chăng? Hay là chính linh hồn ta đó, hoà cùng

linh hồn đất nước, cất lên thành tiếng gọi thiết tha trên đồng chiều bạt gió:

Diêu Bông hời!… ới Diêu Bông!…”

Những dòng này, tôi viết cho Hoàng Cầm, viết về thơ Hoàng Cầm, hay

viết cho mình, viết về lòng mình, thật khó phân biệt.

Nói về cách diễn đạt thì văn nghiên cứu phê bình khác hẳn với lời thầy

giảng trên lớp. Một đằng để nghe, một đằng để đọc. Lời nói gió bay, vì thế,

nhiều câu nhiều chữ trong bài giảng cứ phải nhắc đi nhắc lại để khắc sâu vào

đầu óc học trò. Sinh viên rất khó chịu khi chưa kịp hiểu câu trước đã phải đuổi

theo câu sau của thày. Ngược lại, người đọc rất chán khi bài viết cứ lặp đi lặp lại

một ý “ biết rồi khổ lắm nói mãi”. Văn viết phải rất súc tích. Nếu viết nửa câu

mà người đọc hiểu được rồi thì chỉ viết nửa câu. Kỵ nhất là lời văn cứ tãi ra một

cách thừa thãi. Và cái gì cũng giảng giải làm như người đọc là những học trò

của mình vậy.

Viết phải có văn, có nghệ thuật, giống như đàn bà phải có trang sức.

Nhưng đừng có làm văn một cách lộ liễu để trở thành một lối uốn éo, một thứ

trang trí hoa lá cành. Nhiều khi cũng phải dùng hình ảnh. Nhưng hình ảnh của

văn nghiên cứu phê bình khác với hình ảnh trong văn sáng tác. Hình ảnh của văn

71

nghiên cứu, phê bình phải đạt được cùng một lúc hai chức năng: một là chuyển

tải tình cảm cảm xúc thẩm mỹ, hai là diễn đạt được những khái niệm, những

phạm trù, những quy luật phản ánh bản chất của đối tượng nghiên cứu, phê bình.

Vì nghiên cứu phê bình còn là chuyện khoa học, chuyện tư duy trừu tượng.

Ngoài ra, cũng như văn sáng tác, văn nghiên cứu phê bình cũng phải có

giọng điệu, cũng phải tạo được không khí. Tuỳ theo nhu cầu này mà chọn từ, đặt

câu cho thích hợp. Nói chung văn phê bình gần với văn sáng tác hơn, hành văn

phóng túng hơn. Có khi phải dùng từ thật chính xác, có khi lại phải dùng những

khái niệm mơ hồ. Có khi phải đặt câu ngắn, có khi phải viết câu dài. Để tạo

giọng điệu, có khi phải viết những câu thiếu thành phần ngữ pháp, giống như

khẩu ngữ vậy – “khẩu ngữ là máu của câu văn xuôi”, có một nhà nghiên cứu phê

bình văn học đã nói như vậy. Biết dùng khẩu ngữ, đúng lúc, đúng chỗ, câu văn

sống động hẳn lên.

Viết văn ai chả muốn viết cho hay. Nhưng tự đánh giá văn mình có dễ

đâu. Dễ chủ quan lắm, “Văn mình vợ người” mà. Ngay những nhà văn lớn cũng

không dám chủ quan về chuyện này. Chủ quan nhất thường lại là những cây bút

trẻ. Có lần giảng bài ở trường viết văn Nguyễn Du, Xuân Diệu đã mở đầu thế

này: “Trên đời, có ba loại người kiêu ngạo nhất, một là đứa trẻ lên ba, cái gì nó

cũng đòi, nó đòi cả ông trăng trên trời, hai là những cô gái đẹp, ba là những nhà

văn trẻ”. Hiện nay đang xuất hiện nhiều cây bút trẻ có thể gọi là đại kiêu ngạo.

Nhưng các nhà văn đàn anh lại thường khiêm tốn. Cứ phải đợi xem phản ứng

của độc giả mới biết văn mình có xem được hay không. Trong tiểu thuyết Anna

Karinine của l..Tolstoi’, tôi nhớ có chi tiết này: một danh họa nọ triển lãm tranh.

Ông rất hồi hộp chờ đợi ý kiến đánh giá của bọn quý tộc đến xem, tuy biết bọn

này chẳng hiểu gì lắm về nghệ thuật.

Thế đấy, muốn hiểu văn mình thế nào cũng phải soi vào dư luận độc giả.

Ai chả muốn được khen. Độc giả tầm thường khen cũng thích. Tất nhiên được

loại độc giả cao cấp khen thì khoái hơn nhiều và mới biết được cái giá thật của

văn mình.

Ông Hoài Thanh có lần nói với Hoàng Ngọc Hiến: “Nguyễn Đăng Mạnh

viết thì thông đấy, nhưng phiêu lưu”.

Ông nhận xét tôi phiêu lưu là phải, vì từ sau cách mạng, ông viết quá thận

trọng, thậm chí muốn phủ nhận cả tập Thi nhân Việt Nam nổi tiếng của mình.

Còn tôi thì luôn luôn bị uốn nắn, phê phán. Nhưng được ông khen “viết thông”

không dễ đâu. Tôi biết ông rất chú ý đến văn khi duyệt bài.

Năm 1972, tôi viết bài Sức sống của ngòi bút Nguyễn Thi, Nguyễn Khải

rất thích. Bài này được giải thưởng của Tạp chí Văn nghệ quân đội. Hồi ấy có lẽ

cách ăn mặc và bộ dạng của tôi rất nhếch nhác. Không biết Nguyễn Khải nghĩ

thế nào mà lại nói với Vương Trí Nhàn: “ấy cứ nhếch nhác thế mới viết được”.

Tô Hoài, Nguyên Ngọc thì cho tôi là người viết phê bình có phong cách,

nắm được cái “tạng” riêng của mỗi cây bút. Hồ Dzếnh thì cho tôi có khả năng

nhận ra được cái thần của mỗi nhà văn. Hồi Nguyễn Minh Châu còn sống, tôi

cũng hay đến anh. Anh nói với tôi: “Anh cứ tiếp tục viết như thế đi, chúng tôi

72

ủng hộ anh”.

Trong đời viết văn làm sách của tôi, tôi sướng nhất là được nhận những

lời khích lệ của Xuân Diệu và Nguyễn Tuân.

Tôi đến Xuân Diệu luôn vì biết anh rất quý tôi. Anh nói: “ Mình có bốn

người thân quý nhất: Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông và

Nguyễn Đăng Mạnh.”

Rất tiếc là khi còn sống, Xuân Diệu chỉ mới đọc có hai bài viết ngắn của

tôi, một bài viết về tập thơ “Tôi giàu con mắt” và một bài chân dung, nhan đề

“Xuân Diệu và niềm khát khao giao cảm với đời.” Anh Văn Hồng ở nhà xuất

bản Kim Đồng cho tôi biết, Xuân Diệu đọc bài này và đã khóc, vì cho tôi rất

hiểu mình.

Sau bài viết ấy ít lâu (năm 1985), tôi có đến Xuân Diệu để mời anh nói

chuyện với một lớp sinh viên đặc biệt gọi là lớp 5C, học năm năm ( các lớp khác

chỉ học bốn năm.)

Anh nói về bài tôi viết về anh, cho là tôi viết sâu sắc: “Mạnh ít đến mình

mà hiểu mình rất sâu. Đọc bài viết của cậu, người ta sợ gặp cậu đấy, vì cậu sẽ

đưa người ta vào bài viết. Nhiều điều mình nói đã lâu mà sao Mạnh còn nhớ

được, như mình nói về bài Bản đồ huyện ý Yên. Đúng là bài thơ trung bình cần

đến nhà phê bình, mình có nói thế. Nhưng đáng lẽ phải nói bài trung bình của

nhà thơ lớn. Chứ bài trung bình của nhà thơ thường thì phân tích làm gì.

Huy Cận đọc và khen bài này. Chắc Mạnh cũng thấy có nhiều người khen

bài này chứ!”

Lúc ấy có một người khách trẻ vẫn có mặt trước khi tôi đến – Xuân Diệu

bảo là cháu. Tôi đoán anh này chắc có hẹn gì đó với Xuân Diệu, nên nói: “Chắc

anh có việc bận?” Xuân Diệu nói: “Không, mình đang đợi Mạnh đến, đang

mong gặp Mạnh.” Rồi anh vào buồng tìm một cái gì đó. Khi trở ra, anh kéo tôi

ra nói chuyện riêng ở phòng ngoài.

Anh lại nói tôi viết rất sâu về anh, không có ai viết sâu hơn. Đúng là tri

âm tri kỷ. Rồi anh nói vòng vo rào đón để chuẩn bị tặng tôi một cái gì đó để tôi

nhận mà không phải chối từ lôi thôi: “ Mình quý Mạnh, không phải vì Mạnh viết

về mình đâu, chắc Mạnh hiểu không phải như vậy – Anh đẩy về tôi cái đồng hồ

đeo tay đựng trong một cái hộp nhỏ vuông có nắp bằng mica – mình giữ những

cái này mà đến lúc chết đi thì người ta bảo là thằng ngu, nên cần phải gửi ở

người thân làm vật kỷ niệm. Xưa Tản Đà vào Nam kỳ, Diệp Văn kỳ có biếu ông

một nghìn bạc Đông Dương. Một nghìn bạc Đông Dương to lắm! Hồi ấy chỉ

một xu một quả trứng gà thôi mà. Anh con Tản Đà nói, cha tôi nhận ngay mà

không cám ơn gì cả, ngông thế, nhận một cách tự nhiên như là mình có quyền

nhận, chẳng cần cám ơn ai hết, và người cho cũng không muốn nghe lời cám ơn

khách sáo làm gì. Tản Đà sướng thật! Mình thì không xứng với Diệp Văn Kỳ,

nhưng Mạnh thì đúng là Tản Đà.”

Ôi! Anh ví von gì mà kỳ thế! Chắc ý anh muốn nói, tôi nhận mà không

cần cám ơn anh, còn món quà của anh thì bằng sao được một nghìn bạc Đông

Dương của Diệp Văn Kỳ.

73

Lúc ấy Tuyển Tập Xuân Diệu mới in tập I. Tập này tuyển thơ, Hoàng

Trung Thông đề tựa. Anh đề nghị tôi giới thiệu cho anh một người khác đề tựa

tập II, tuyển văn xuôi. Tôi giới thiệu một người bạn cùng dạy khoa Văn Đại học

Sư phạm với tôi mà Xuân Diệu cũng có quen biết. Nhưng anh ngồi nghĩ một lúc

rồi bảo: “Anh ấy chưa connu.” Và anh nói thẳng: “ Thôi Mạnh viết cho mình.”

Rất tiếc khi Tuyển Tập Xuân Diệu, tập II xuất bản ( 1987 ) thì anh đã qua đời (

cuối năm 1985 )

Về Nguyễn Tuân thì hồi dạy ở Đại học Sư phạm Vinh, tôi có được gặp

một lần. Năm 1967, khoa Văn trường Vinh có giao cho tôi đi mời Nguyễn Tuân

vào nói chuyện với cán bộ và sinh viên về ký chống Mỹ. Nhưng sau đó khá lâu

tôi không tiếp xúc với ông nữa. Không có lý do gì, đến ông rất ngại. Mãi đến

năm 1980, được giao làm Tuyển Tập Nguyễn Tuân, tôi mới có cớ đến ông. Hoá

ra ông có đọc bài Con đường Nguyễn Tuân đi đến bút ký chống Mỹ của tôi đăng

báo từ năm 1968, và khi ông Lý Hải Châu, Giám đốc nhà xuất bản Văn học, đề

nghị hai người làm tuyển tập Nguyễn Tuân là Vũ Ngọc Phan và tôi thì ông đã

chọn tôi.

Khi tôi viết xong bài Tựa Tuyển Tập, anh biên tập viên Lê Khánh thấy dài

quá, đề nghị tôi rút ngắn lại, tôi không chịu, anh bèn đưa cho Nguyễn Tuân, định

lấy cái uy của Nguyễn Tuân bắt tôi cắt bớt bài viết.

Khi tôi đến Nguyễn Tuân để nghe ông góp ý, ông mời tôi uống rượu.

Suốt buổi, ông không nói gì về bài Tựa của tôi. Tôi đoán ông chưa đọc nên xin

phép đi về. Lúc ấy ông mới lấy bản thảo bài Tựa ra và nói vắn tắt: “Tôi không

có ý gì khác. Nhà xuất bản bảo tôi đề nghị anh rút ngắn lại, nhưng anh yên tâm,

tôi đã nói với họ rồi, có nhà văn đơn giản người ta viết ngắn cũng được, nhưng

có nhà văn phức tạp, người ta phải viết dài.” Rồi ông tự tay cho cái bản thảo vào

cái túi xách khá nhếch nhác của tôi ( loại túi của đàn bà đi chợ mua miếng thịt,

mớ rau ) – một cử chỉ thân mật ít có của Nguyễn Tuân. ông còn nói với tôi muốn

đến ông lúc nào cũng được, không cần báo trước, miễn là đến từ mười giờ trở đi.

Trước đó ông thường đi dạo mấy vòng ngoài phố, 10 giờ thì về ăn cơm.

Từ đó tôi đến ông luôn, tất nhiên mỗi lần đến vẫn phải tìm một cái cớ nào

đấy, vì tôi vẫn nghĩ, mình có là bạn bè gì của ông mà đến chơi.

Có một lần ông nói với tôi thế này: “Một buổi sáng nọ, tôi bước ra cửa thì

thấy có hai cháu nữ sinh đứng ở hành lang. Hỏi có việc gì thì nói là sinh viên đại

học ở Thanh Xuân ( ông không nói là ở trường Đại học Tổng hợp ) được thầy

Phan Cự Đệ hướng dẫn làm luận văn tốt nghiệp về Nguyễn Tuân, vì thế xin đến

gặp để tìm hiểu. Tôi nói với các cháu, hãy đến nhà xuất bản Văn học, hỏi địa chỉ

anh Nguyễn Đăng Mạnh, anh ấy sẽ nói cho biết.”

Vậy là tôi được giao làm “đại diện toàn quyền” cho ông rồi còn gì!

ít ngày sau, quả nhiên có hai cô sinh viên tổng hợp tìm đến tôi ở Đồng Xa.

Hoá ra một cô là con ông Phạm Hựu, Giám đốc nhà xuất bản Khoa học xã hội,

còn một cô là con chị Đặng Thanh Lê, cán bộ giảng dạy khoa Văn Đại học Sư

phạm Hà Nội.

Từ xưa đến nay, ở Việt Nam cũng như ở nhiều nước trên thế giới, những

74

người sáng tác thường không ưa giới phê bình. Riêng tôi thuộc vào số người viết

phê bình ít bị các nhà sáng tác ghét hơn cả. Tất nhiên cũng có người ghét.

Nhưng ít thôi. Thí dụ như Hồ Phương. Trong một bài báo gọi là “ Dòng sông và

rều rác” ( Công an thành phố Hồ Chí Minh. 10 – 1- 1996), anh cho cuốn sách

của tôi: Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn ( bị Trần Mạnh Hảo

đánh .) có “ tác hại (…) còn lớn và tệ hơn tác hại của ba cuốn Sex về ái tình éo

le và bạo lực đang còn la liệt trên các vỉa hè, quán sách khắp nước.” Đây là

cuốn tới hôm nay đã được tái bản đến lần thứ tư và đã được nhận giải thưởng

khoa học Nhà nước. Không biết Hồ Phương có đọc không và nghĩ thế nào mà lại

viết như thế, chắc là nhắm mắt theo Trần Mạnh Hảo. Đúng là một đầu óc đen

tối, thô bỉ và rất vô trách nhiệm.

Tôi nhớ hồi 1987, có dịp cùng đi với Hồ Phương sang Cămpuchia. Hồi ấy

quân ta còn đóng bên ấy. Anh Nguyễn Chí Trung có mời một số người sang bồi

dưỡng nhà văn quân đội Cămpuchia: Trần Quốc Vượng, Hoàng Ngọc Hiến, Thu

Bồn, tôi và Hồ Phương. Chỉ có một lớp học thôi nên chúng tôi được đưa sang

lần lượt từng người một, từ Sài Gòn ( doanh trại quân đội số 8 Nguyễn Bỉnh

Khiêm ) sang PNông Pênh, khi về lại ở 8 Nguyễn Bỉnh Khiêm. ở đây, chúng tôi

ăn ở bếp ăn quân đội. Không hiểu sao hồi ấy cái gì cũng rập theo Tầu. Phòng ăn

có ba dãy bàn phân theo cấp bậc, cắm biển Đại táo, Trung táo, Tiểu táo. Tôi và

Hồ Phương được ăn ở bàn tiểu táo, nghĩa là tiêu chuẩn cao nhất. Tuy vậy thức

ăn chẳng có gì. Hồi ấy đời sống cán bộ cũng như quân đội còn thiếu thốn, khó

khăn lắm. Tôi không phải là lính nhưng cũng rất thông cảm với lính – họ còn

phải ăn theo tiêu chuẩn thấp hơn ( Đại táo ). Hồ Phương là sĩ quan quân đội,

hình như đại tá, trung tá gì đó – bây giờ được phong thiếu tướng rồi – mà ăn nói

rất thiếu văn hóa. Anh nói với tôi: “Chúng nó cho chúng mình ăn như cho chó

ăn vậy.” Đúng là tâm địa rất xấu và độc ác nữa. Vậy mà cứ mở mồm ra là nói

nhân văn, nhân đạo.

Vũ Quần Phương chắc cũng không ưa tôi. Trong cuộc hội thảo về lý luận

phê bình văn học ở Tam Đảo, anh ta ủng hộ Trần Mạnh Hảo, phê phán tôi là tiểu

khí và hãnh tiến. Đúng là ăn nói vu vơ chẳng có căn cứ gì. Bây giờ Hảo đã trở

cờ, không biết có còn dám bênh Hảo nữa không? Vũ Hạnh chắc cũng không ưa

tôi. Khi anh đề tựa cuốn Hầu chuyện các giáo sư của Trần Mạnh Hảo mà cho

rằng, Hảo không qua đại học là một điều may mắn của anh ta, thì chắc anh cho

tôi là đại học rởm, giáo sư rởm. Còn Trần Mạnh Hảo thì tôi cho anh ta chẳng

ghét gì tôi, tuy viết hàng loạt bài xuyên tạc quy chụp tôi tới tấp. Bởi con người

này viết có vì chân lý, có vì yêu hay ghét gì ai đâu, mà chỉ xuất phát từ nhu cầu

cá nhân. Lúc cần đến Đảng thì nịnh Đảng, lúc cần theo Tây thì nịnh Tây, quay

180 độ như không.

Một người cũng hay phê phán tôi, phê phán rất quyết liệt nữa, là anh Trần

Thanh Đạm. Anh cho tôi là đổi mới cực đoan, quá khích, còn tôi thì cho anh là

đầu óc bảo thủ thâm căn cố đế rất khó hiểu ở một con người có văn hoá như anh.

Anh viết một bài phê phán tôi khinh bạc cả cách mạng, khinh bạc hơn cả

Nguyễn Tuân: “Đối với hơn 30 năm hy sinh chiến đấu của dân tộc và của văn

75

nghệ dân tộc, cụ Nguyễn Tuân chưa bao giờ và không thể có cái giọng khinh

bạc như của anh Mạnh.

(1)

Lập luận của anh Đạm có một mâu thuẫn : Câu trên anh viết: “Thế hệ trẻ

rất thông minh, sáng suốt, biết phân biệt lẽ phải, điều hay với những gì trái lại”;

câu dưới anh lại thừa nhận tôi “có uy tín và tác dụng” hơn anh rất nhiều đối với

giáo viên, sinh viên: “ Tôi ( Trần Thanh Đạm ) đã gặp nhiều thày giáo, nhiều

sinh viên mang dáng dấp tư tưởng và phong cách của anh (Nguyễn Đăng

Mạnh), là “đồ đệ” của cả điều hay lẫn chỗ dở của anh.” Vậy thì họ rất ngu chứ

sao lại cho là “thông minh, sáng suốt” được.

Một điều cũng lạ là tuy phê tôi rất ác, nhưng tiếp xúc với tôi, anh vẫn tỏ

cảm tình nồng nhiệt. Rất khó hiểu. Hay vì anh là người Huế – “Sơn bất cao, thuỷ

bất thâm…”?

Nhớ hồi 1979, tôi có tặng anh tập tiểu luận, phê bình văn học đầu tiên của

tôi, cuốn Nhà văn, tư tưởng và phong cách. Sau đó ít lâu, tôi vào Sài Gòn, bị

chảy máu dạ dày phải vào cấp cứu ở bệnh viện, anh có đến thăm. Anh tặng tôi

mấy câu thơ, có thể xem là cảm đề cuốn sách của tôi:

Đọc anh nhớ lúc anh nằm viện,

Một lần ngoài đó, một lần đây;

Những dòng ta viết cho người khác,

Ai biết bên trong máu thấm đầy.

Gần 30 năm đã trôi qua kể từ ngày ấy, giờ tôi vẫn nhớ và vẫn biết ơn anh

về bốn câu thơ ấy.

Về các nguồn động viên đối với tôi trong nghiên cứu phê bình văn học,

tôi còn phải kể đến nguồn này nữa: Cảm tình của nhiều học sinh phổ thông trên

nhiều vùng đất nước. Họ không hề học tôi và gặp tôi bao giờ, nhưng vì đọc sách

của tôi (ngoài sách nghiên cứu phê bình tôi còn viết sách giáo khoa phổ thông

trung học và nhiều sách bồi dưỡng học sinh về môn văn), họ viết thư thăm hỏi

tôi, lời lẽ rất thắm thiết và đầy ngưỡng mộ(1)

. Thư nào cũng mong mỏi tôi trả lời.

Nhưng tôi cứ lần lữa rồi cuối cùng chẳng trả lời ai cả. Chắc các em cho tôi là coi

thường mình. Không, tôi không coi thưòng ai cả nhất là những người có cảm

tình với tôi – vì khi mới tập sự viết sách tôi đã từng bị có người khinh và rất

thấm thía điều đó. Chẳng qua là tôi có bệnh lười viết thư, kể cả viết thư cho

người thân trong gia đình. Nhưng biết bệnh mà không sao chữa được.

Tôi rất biết ơn những bức thư kia. Đó là những lời động viên hồn nhiên,

vô tư, chân thật nhất, giúp tôi phấn khởi trong hoạt động nghiên cứu phê bình

văn học.

(1)

Trao đổi ý kiến với giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh về cuộc “nhận đường” của văn học hôm

qua và hôm nay. Sài Gòn giải phóng, 11 – 6 – 1995.

(1)

Tính cho đến hôm nay, tôi đã nhận được 32 lá thư gửi từ các nơi như Thái Bình, Hải

Dương, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Bắc Giang, Hoà Bình, Phú Thọ, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ

An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Qui Nhơn, Phú Yên, Vĩnh Long, Đà Lạt.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s