hồi ký nguyễn đăng mạnh (chương 7)

 

Chương VII: Hồ Chí Minh

Tôi được tận mắt thấy Hồ Chí Minh hai lần.

Lần thứ nhất ngay sau Cách mạng tháng Tám. Sau cuộc khởi nghĩa

tháng tám 1945, bố tôi đưa cả gia đình từ Thái Bình về Thị xã Bắc Ninh. Tôi

tiếp tục học cấp II ở trường Hàn Thuyên.

Một hôm được tin Hồ Chủ Tịch về Bắc Ninh. Tôi và mấy bạn học được

nhà trường cử đi đón. Mỗi đứa được phát một lá cờ nhỏ bằng giấy, hễ Hồ Chủ

Tịch đến thì vẫy cờ và hô khẩu hiệu chào mừng.

Chúng tôi đứng xếp hàng trước cửa phòng thông tin thị xã, nơi Chủ tịch

Hồ Chí Minh tới.

Đợi một lúc thì có một chiếc xe ôtô con đỗ ngay mép đường, trước cửa

phòng thông tin. Tôi thấy có hai anh cảnh vệ vọt ra trước, cầm lăm lăm tiểu

liên, nhẩy lên đứng trên hai cái trụ của bức tường hoa thấp trước phòng thông

tin. Hai anh lia mũi súng sang trái, sang phải, vẻ mặt căng thẳng.

Hồ Chí Minh bước ra sau. Quần áo kaki. Giầy vải. Cầm batoong. Người

gầy, đen. Râu tóc cũng đen. Ông đứng lại ngay sát chúng tôi, nhưng không để ý

gì đến bọn trẻ con này cả, tuy chúng tôi ra sức phất cờ và hô “Hồ chủ tịch muôn

năm!”

Đứng lại một lát, liếc nhìn chung quanh một chút, mặt đầy cảnh giác,

rồi ông đi rất nhanh vào phòng thông tin. Lưng rất thẳng, gầy nhưng cứng cáp,

cử chỉ lanh lẹn – ấn tượng của tôi về Hồ Chí Minh là như thế.

Hồi đó, ở Bắc Ninh, Việt Nam Quốc dân đảng hoạt động khá mạnh. Đã

có những cuộc đụng độ vũ trang giữa lính quốc dân đảng và Vệ quốc đoàn ở

Thị Cầu. Chắc vì thế nên Ông Hồ và các vệ sĩ của ông rất cảnh giác.

Lần thứ hai tôi được thấy Hồ Chủ Tịch là vào khoảng 1961, 1962 gì đó,

hồi tôi công tác ở trường Đại học Sư phạm Vinh.

Ông Hồ vào Vinh. Người ta tổ chức cho Ông gặp đồng bào ở một cái

sân vận động của thị xã.

Họ dựng một cái kỳ đài bằng tre – có vẻ thô sơ thôi. Ông Hồ đứng trên

đó với một số cán bộ Tỉnh. Lúc hô khẩu hiệu, ông cùng vung tay hô như mọi

người:

– Đảng lao động Việt Nam Muôn năm!

– Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà muôn năm!

Ông Hồ vung tay rất cao.

Nhưng đến khẩu hiệu thứ ba:

– Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!

Ông Hồ cũng vung tay lên, nhưng chợt nhận ra họ hoan hô mình, vội

rụt tay xuống.

Tôi theo dõi không bỏ sót một cử chỉ nào của ông cụ hôm ấy.

Ông Hồ bắt đầu nói chuyện với đồng bào.

Hồ Chí Minh không hề tỏ ra là người hùng biện. Nói chậm, ngắn,

122

không lưu loát. Có chỗ lỡ miệng nói hớ, vội lảng sang ý khác. Tôi nhớ ông đang

nói dở một câu tục ngữ: “Thanh cậy thế, Nghệ cậy…” thì vội ngừng lại và lảng

sang ý khác. Có lẽ ông không muốn làm mất lòng người Nghệ Tĩnh chăng, vả

lại “cậy thần” là thần nào, thần Hồ Chí Minh à? Tôi chắc ông nghĩ thế nên

không nói tiếp câu ấy nữa.

Năm 1969, tôi chuyển ra công tác tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

Các anh Huỳnh Lý, Nguyễn Trác, Hoàng Dung thay nhau làm tổ trưởng tổ Văn

học Việt Nam hiện đại. Các anh đều rất quan tâm đến việc nghiên cứu thơ văn

Hồ Chí Minh nên thường tổ chức cho chúng tôi gặp những người hiểu biết về

Hồ Chí Minh như Hoàng Văn Hoan, Lê Quảng Ba, hoạ sĩ Diệp Minh Châu, Vũ

Kỳ. Nhờ gặp các vị này, tôi được biết nhiều chuyện cụ thể về Ông Hồ, trước hết

là chung quanh sự kiện Ông Hồ bị bắt ở Quảng Tây, Trung Quốc và viết Nhật kí

trong tù.

Ông Hồ về PắcBó đầu năm 1941 ngày 28 – 01, tháng 8 – 1942 ông trở

lại Trung Quốc để vận động các cơ sở cách mạng bên ấy ủng hộ Việt Minh và

mua vũ khí về cho Việt Minh.

Ông Lê Quảng Ba cùng đi với Ông Hồ. Đến một địa điểm nào đó thuộc

Quảng Tây thì gặp núi lở, một tảng đá văng vào chân Lê Quảng Ba. Ba bị đau,

cố đi một cách khó khăn. Để động viên người đồng hành với mình, Ông Hồ vừa

đi vừa kể Chính phụ ngâm. Vừa kể vừa giảng. Té ra xa nước ba muơi năm, Hồ

Chí Minh vẫn thuộc lòng Chinh phụ ngâm.

Nhưng Lê Quảng Ba càng đi càng đau. Đến Tĩnh Tây thì phải nghỉ lại

tại một cơ sở cách mạng. Hôm sau, Ông Hồ tiếp tục lên đường. Cùng đi với ông

có một thanh niên Trung Quốc tên là Dương Đào – tất nhiên cũng là một cơ sở

cách mạng. Đến xã Túc Vinh, huyện Đức Bảo, tỉnh Quảng Tây thì bị bọn

Hương cảnh Trung Quốc bắt (ngày 27 – 8 – 1942).

Không phải Ông Hồ không có giấy tờ hợp lệ. Hồ Chí Minh không thể

sơ xuất như thế được. Hồ Chí Minh bị bắt vì khám trong người, cảnh sát Tầu

phát hiện có rất nhiều đôla. Nghe nói hồi ở PắcBó, có người đã thấy ông phơi

đôla cho khỏi ẩm mốc. Bây giờ qua Trung Quốc, ông đem đôla đi để mua vũ

khí cho Việt Minh.

Nhưng cảnh sát Tầu cho là Hán gian, là gián điệp của Nhật lúc bấy giờ

đang đánh Trung Quốc. Chỉ có gián điệp mới có đôla thôi chứ, người dân Trung

Quốc bình thường làm gì có lắm ngoại tệ thế! Điều này tác giả Nhật kí trong tù

cũng đã nói rõ trong thơ của mình:

Ta người ngay thẳng, lòng trong trắng

Lại bị tình nghi là Hán gian

(Đường đời hiểm trở)

Hôm nay xiềng sắt thay dây trói,

Mỗi bước leng keng tiếng ngọc rung;

Tuy bị tình nghi là gián điệp,

Mà như khanh tướng vẻ ung dung.

(Đi Nam Ninh)

123

Các vị lãnh đạo Đảng lúc bấy giờ ở Cao Bằng như Trường Chinh, Võ

Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt… nghe tin cụ Hồ bị bắt, hoảng quá, cho người

sang Tầu dò hỏi xem nó giam ở đâu, nhưng không tìm được. Qua mấy tháng bặt

tin tức, các vị bèn quyết định lật bài ngửa: điện cho Mạc Tư Khoa và cho Tưởng

Giới Thạch nói rõ đó là Nguyễn ái Quốc, thủ lĩnh Việt Minh, đề nghị thả ra.

Biết không phải là Hán gian, các nhà chức trách Trung Hoa bèn chuyển

Hồ Chí Minh sáng chế độ nhà tù khác. Trong Nhật kí trong tù, bài Bốn tháng

rồi có thể coi là bản tổng kết giai đoạn đầu của thời gian 14 tháng ở tù vô cũng

cực khổ của Ông Hồ – “Sống khác loài người vừa bốn tháng, Tiều tuỵ còn hơn

mười năm trời”

Chuyển sang chế độ nhà tù mới, Ông Hồ được tắm rửa, ăn uống khá

hơn, thỉnh thoảng được đi dạo quanh nhà lao, đặc biệt được cung cấp rất nhiều

sách báo. Tưởng Giới Thạch còn tặng ông một cuốn sách của mình. Điều này

ông Trần Dân Tiên đã có nói nhưng không giải thích lý do vì sao. Điều đáng

chú ý là, Nhật kí trong tù có tất cả 133 bài tuyệt cú thì bài Bốn tháng rồi là bài

thứ 103. Nghĩa là 10 tháng sau, tác giả chỉ làm thêm ba chục bài nữa thôi. Vì

sao vậy? Vì Hồ Chí Minh chỉ làm văn chương khi tuyệt đối không có điều kiện

làm chính trị, làm cách mạng. Mười tháng sau này, có điều kiện chuẩn bị cho

cách mạng, lập tức ông dồn sức vào đấy: đọc sách báo, dịch tác phẩm “Tam dân

chủ nghĩa” của Tôn Trung Sơn, đọc sách của Tưởng Giới Thạch tặng (Cuốn

“Trung Quốc đích mệnh vận”)…

Nguyên bản Nhật kí trong tù đâu chỉ có thơ. ở cuối tập Nhật kí còn có

tới 20 trang ghi kín tin tức thời sự lấy từ các báo chí được cung cấp gọi là Độc

báo lan, và những thu hoạch từ các sách đã đọc gọi là Độc thư lan

Mới biết, viết bài Mở đầu (Khai quyển) Nhật kí trong tù, Hồ Chí Minh

đã nói thật lòng mình:

Ngâm thơ ta vốn không ham,

Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây;

Ngày dài ngâm ngợi cho khuây,

Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do.

Hồ Chí Minh được bọn Tầu Tưởng thả về nước không phải ngẫu nhiên,

chắc ông phải khôn khéo thương lượng với chúng và với cánh Nguyễn Hải

Thần, Nguyễn Tường Tam như thế nào đó, nó mới thả cho về nước.

Hôm tiễn cụ Hồ về nước, Hầu Chí Minh (Trong Nhật kí trong tù ông Hồ

gọi là Hầu chủ nhiệm (Chủ nhiệm cục chính trị đệ tứ chiến khu)) cùng với

Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam có tổ chức một cuộc liên hoan hẳn hoi

(tháng 12 – 1943). Trong liên hoan, họ có thử tài nhau bằng thách đối.

Nguyễn Hải Thần đưa ra một vế đối khá hóc hiểm:

“Hầu Chí Minh, Hồ Chí Minh, lưỡng vị đồng chí, chí giai minh”

Ông Hồ xin đối:

“Nhĩ cách mệnh, ngã cách mệnh, đại gia cách mệnh, mệnh tất cách”

Mọi người tán thưởng. Hầu Chí Minh ca ngợi: “Đối hay lắm!”. Còn

Nguyễn Hải Thần thì cung kính nói: “Hồ Tiên Sinh tài trí mẫn tiệp, bội phục,

124

bội phục!”

Trong cuộc liên hoan, ông Hồ còn góp vui một tiết mục rất đặc biệt:

nhảy điệu Nga – la – tư. Một điệu vũ dân gian rất khoẻ của Nga.

Trong Nhật kí trong tù và hồi kí Vừa đi đường vừa kể chuyện, ông Hồ

có nói, khi mới ra tù “chân mềm như bún”, đi không được, phải tập leo núi rất

khó nhọc, phải bò, phải lết mãi mới đi được. Vậy sao lại có thể nhẩy điệu Nga –

la – tư?

Suy ra ta có thể hiểu như thế này: từ khi biết ông Hồ là ông Hồ, không

phải Hán gian, nhà chức trách Trung Quốc cho ông được hưởng chế độ quản

thúc. Nghĩa là chỉ không được ra khỏi vùng quản thúc thôi, còn thì có thể ra

ngoài nhà tù để leo núi, tập đi, tập luyện mắt (Cho nên mới có chuyện, ở Liễu

Châu, ông Hồ đi tắm sông, gặp tướng Tàu Trương Phát Khuê). Khoảng giữa

tháng 9 – 1943, sau một thời gian tập luyện, cuối cùng ông Hồ chẳng những đi

vững mà còn trèo được núi. Lần đầu tiên lên đỉnh núi, Ông cao hứng làm một

bài thơ chữ Hán:

Vân ủng trùng sơn sơn ủng vân

Giang tâm như kính tịnh vô trần

Bồi hồi độc bộ Tây phong lĩnh,

Nam vọng trùng dương ức cố nhân

(Vừa đi đường vừa kể chuyện)

Bài thơ này cụ Hồ đã bí mật gửi về cho các đồng chí của mình ở Cao

Bằng (Viết lên mép trắng của một tờ Quảng Tây nhật báo). Võ Nguyên Giáp,

trong tập hồi kí Những chặng đường lịch sử cho biết: “Bữa ấy, tôi về cơ quan

hội báo tình hình thì thấy anh Đông, anh Vũ Anh và anh Lã đang xem xét quanh

một tờ báo. Các anh chuyển tờ báo và hỏi tíu tít:

– Anh xem có đúng là chữ của Bác không?

Đó là một tờ báo ở Trung Quốc mới gửi về, trên mép trắng có mấy hàng

chữ Hán viết tay. Tôi nhận ra ngay đúng là chữ Bác, Bác viết: “Chúc chư

huynh ở nhà mạnh khoẻ và cố gắng công tác. ở bên này bình yên”

Phía dưới lại có một bài thơ”.

Như thế bài thơ này đã được làm từ khá lâu (9 – 1943) trước cuộc liên

hoan tiễn chân nói trên 3 tháng (12 – 1943)

Sau này, Tô Hoài còn cho biết, trong buổi liên hoan tiễn cụ Hồ về nước

hôm ấy còn có mặt nhà thơ Quang Dũng nữa. Lúc này Quang Dũng đang đi

theo Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Hải Thần.

Về tập Nhật kí trong tù, có người nói, ông Hồ đánh mất ngay sau khi ra

khỏi tù. Thực ra không phải.

Ngày 16 – 9 -1943, ông Hồ được trả lại tự do, cuốn Nhật kí trong tù vẫn

được ông giữ cẩn thận.

Ngày 14 – 9 – 1955, ông đưa tác phẩm này cho ông Nguyễn Việt,

trưởng ban tổ chức triển lãm cải cách ruộng đất tại phố Bích Câu: “Tôi có quyển

sổ tay cách đây mười mấy năm còn giữ được đến bây giờ, các cô, các chú xem

có triển lãm được thì dùng”. Nguyễn Việt đưa vào triển lãm, bầy ở phòng

125

“Ngọn đuốc soi đường của Đảng Cộng sản Đông Dương”

Nhật kí trong tù hiện được lưu giữ ở Bảo tàng cách mạng Việt Nam.

Vào năm 1970, 1971 gì đó, anh Huỳnh Lý được biết hoạ sĩ Diệp Minh

Châu từng sống với Hồ Chủ Tịch sáu tháng ở Việt Bắc thời kháng chiến chống

Pháp, nên tổ chức cho chúng tôi gặp hoạ sĩ ở nhà riêng.

Hai vợ chồng cùng là hoạ sĩ và điêu khắc. Nhà cửa hết sức bề bộn, có

thể nói là tanh bành. Đất sét, thạch cao vung vãi. Nước đổ lênh láng trên nền

nhà. Khắp nơi lăn lóc những đầu người: đầu Nguyên Hồng, đầu Nguyễn Tuân…

bằng đất sét.

Cách trò chuyện của Diệp Minh Châu cũng vậy. Chuyện nọ sọ chuyện

kia, có lúc lại tạt ngang giới thiệu tranh của vợ.

ở đây tôi chỉ lọc ra những gì anh nói về Hồ Chí Minh.

Diệp Minh Châu ở với Hồ Chủ Tịch sáu tháng ở chiến khu Việt Bắc

trước khi ra nước ngoài học tiếp về hội hoạ, điêu khắc. Hằng ngày, anh cùng ăn

với Hồ Chủ Tịch.

Có một bữa, đến giờ ăn rồi mà mãi không thấy ông Hồ ra. Diệp Minh

Châu ngồi đợi. Cuối cùng ông cũng ra, nhưng lại châm điếu thuốc hút, nghĩa là

chưa ăn ngay. Thấy Châu ngồi đợi, ông bảo: “Chú cứ ăn trước đi”.Tất nhiên

Châu không dám, vẫn đợi. Một lát, ông Hồ nói thủng thẳng với hoạ sỹ: “Về sau

chú làm nghề gì thì làm nhé, đừng làm chủ tịch nước, khổ lắm!”

Diệp Minh Châu không bình luận gì. Tôi cho rằng, Hồ Chí Minh vừa

qua một cuộc họp trung ương, chắc có điều gì không thuyết phục nổi các đồng

chí của mình: Người ta đang sùng bái Staline, Mao Trạch Đông, không chịu

nghe Hồ Chí Minh, chắc thế.(Staline vốn không coi Hồ Chí Minh là cộng sản

chân chính. Ông Phạm Văn Đồng có lần nói với anh Hoàng Tuệ (khi hai người

cùng công tác ở Liên Xô): Năm 1950, Staline triệu Hồ Chí Minh sang gặp. Ông

ta không gọi Hồ Chí Minh là đồng chí (tavarich).

ở rừng Việt Bắc vào những đêm trăng đẹp, ông Hồ thường rủ Diệp Minh

Châu ra suối câu cá. Vừa câu vừa trò chuyện. Có lần ông nói về Nhật kí trong

tù: “Hồi ấy bị giam trong tù buồn quá, phải nghĩ ra cách gì để giải trí. Có ba

cách: một là nằm ngửa đếm ngói trên mái nhà, đếm hết lại phân loại ngói lành,

ngói vỡ. Hai là săn rệp ở những khe ván sàn xà lim. Ba là làm thơ”. Thì ra đối

với ông Hồ, làm thơ cũng chỉ là một trò giải trí như đếm ngói và săn rệp vậy

thôi. Thảo nào có ai hỏi ông về Nhật kí trong tù như một tập thơ, ông đều từ

chối không trả lời, vì coi đó chẳng phải thơ phú gì và bản thân ông cũng không

phải nhà thơ. Chẳng qua ở tù buồn quá, không biết làm gì, thì ghép vần chơi,

thế thôi. (Trong Vừa đi đường vừa kể chuyện, ông đã nói như thế).

Năm 1965, Mỹ cho không quân ra đánh phá miền Bắc. Cầu Hàm Rồng,

Thanh Hoá, là một trọng điểm oanh tạc của chúng. Anh chị em dân quân Nam

Ngạn, Hàm Rồng phối hợp cùng với pháo binh tải đạn và bắn máy bay giặc.

Nổi lên có hai nữ dân quân được tuyên dương công trạng xuất sắc: Ngô Thị

Tuyển và Nguyễn Thị Hằng.

Năm ấy, tôi phụ trách một đoàn sinh viên Đại học Sư phạm Vinh ra thực

126

tập ở trường Lam Sơn, Thanh Hoá, sơ tán ở ngoại ô thị xã. Tôi đưa mấy sinh

viên văn ra gặp Nguyễn Thị Hằng ở nhà riêng. Hằng là một cô gái quê mà rất

trắng trẻo, cao ráo. Cô cho xem bức hình chụp mặc quân phục trông rất đẹp đẽ,

oai phong. Cô khoe vừa được ra Hà Nội gặp Bác Hồ. Lần đầu tiên ra Hà Nội, đi

đâu cũng có một anh cảnh vệ hay công an đưa đi. Hành trình qua rất nhiều

chặng. Đến mỗi chặng, anh dẫn đường lại bảo, cô chờ ở đây, người khác sẽ đưa

đi tiếp. Chặng cuối cùng, anh dẫn đường nói, cô ngồi đây, Bác xuống bây giờ.

Một lát ông Hồ tới. Ông không vội hỏi han gì về thành tích chiến đấu

của Hằng. Câu hỏi đầu tiên của vị Chủ tịch nước là: “Cháu có buồn đi tiểu, Bác

chỉ chỗ cho mà đi”

Câu chuyện của Nguyễn Thị Hằng về chủ tịch Hồ Chí Minh hôm đó, tôi

nhớ nhất chi tiết này. Chi tiết rất nhỏ nhưng nói rất nhiều về con người Hồ Chí

Minh.

Tôi nghĩ đến câu nói của một nhân vật của Dostoievsky trong Anh em

nhà Karamadôp: “Tôi càng yêu nhân loại nói chung thì lại càng ít yêu con

người nói riêng, tức tách bạch ra từng người riêng rẽ. Những lúc mơ ước, nhiều

khi tôi đã có dự định say mê phụng sự nhân loại (…) thế những tôi lại không thể

sống chung với bất kì ai trong một căn phòng”. Đó là loại người mà

Dostoievsky gọi là chỉ có “ tình yêu mơ mộng” chứ không có tình yêu thực sự.

Ông Hồ một mặt yêu nhân loại rộng lớn, mặt khác, quan tâm rất cụ thể

thiết thực đến những con người cụ thể quanh mình.

Anh Trần Việt Phương có kể một câu chuyện khác cũng tương tự về ông

Hồ. Trước căn nhà sàn của chủ tịch luôn có một anh bộ đội đứng gác. Thương

anh lính trẻ đứng gác lâu chắc đói bụng, ông cụ đem một quả chuối xuống cho

anh ta ăn. Anh lính không dám ăn vì như thế là vi phạm luật nhà binh. Ông Hồ

nói: Vậy để bác gác cho cháu ăn, không sợ.

Hồ Chí Minh có điều này cũng rất quý: trong cách ứng xử với mọi

người, tỏ ra rất lịch sự, nghĩa là rất tôn trọng con người: Hồi kháng chiến chống

Pháp, hoạ sĩ Dương Bích Liên được cử đến ở với ông Hồ để vẽ. Sau một thời

gian, Tố Hữu đến xem tranh, cho là không đạt (Chắc là Dương Bích Liên thích

vẽ Hồ Chí Minh trong sinh hoạt đời thường, không thể hiện được tư thế lãnh tụ

chăng?). Tố Hữu quyết định cho Dương Bích Liên thôi việc và mời đi luôn. Khi

ông Hồ biết chuyện này thì Dương Bích Liên đã đi rồi. Hồ Chí Minh không

bằng lòng với cách đối xử như thế. Ông cho người đuổi theo mời hoạ sĩ trở lại

để có lời với anh và đưa tiễn đàng hoàng.

Tôi nghĩ Hồ Chí Minh thực bụng, không hề coi mình là ông thánh, nghĩa

là chỉ muốn được là người với những nhu cầu như của mọi người bình

thường.Cũng có thể trong tư cách nhà chính trị lại khác. Vì nhu cầu chính trị, có

khi Hồ Chí Minh cũng phải “diễn” những điều trái với bản chất của mình. Vì

thế tôi nói, thực bụng ông Hồ không thích làm thánh nhân chút nào. Thí dụ, mệt

cũng muốn nghỉ. Tố Hữu có lần đi với ông, thấy một khẩu hiệu trên tường:

“Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!”, ông nói: “Hồ Chí Minh chỉ muốn nằm!”

Ông Hồ cũng thích hút thuốc lá. Và chỉ quen hút thuốc lá ngoại, thuốc lá

127

Mỹ. Ông đã bị chi bộ phê bình và bắt hút thuốc nội. Sau thấy ông ho quá, lại

cho hút thuốc ngoại như cũ. Anh Hoàng Tuệ kể với tôi chuyện này: hồi kháng

chiến chống Pháp, đi công tác ban đêm, tình cờ anh đi cùng với một đoàn người

chở thuốc lá ngoại từ vùng tề ra cho cụ Hồ, có bộ đội đi kèm để bảo vệ.

Hoạ sĩ Dương Bích Liên, hồi cùng ở với ông Hồ ở Việt Bắc, thấy ông

thường hút thuốc lá ngoại, uống rượu Tây và uống sữa tươi (Người ta nuôi một

con bò để lấy sữa cho ông).

Theo Trần Đăng Ninh (Tô Hoài kể lại), ông Hồ ở phủ chủ tịch, thỉnh

thoảng lại đóng bộ complet, cravate, chống ba toong đi dạo một lúc trong khuôn

viên cho đỡ nhớ – hẳn là nhớ sinh hoạt hồi ở Paris.

Hà Huy Giáp cho biết: Một hôm linh mục Phạm Bá Trực gặp ông Hồ,

bảo ông là surnature – ông Hồ nói: “Chúng mình là contrenature”.

Hà Huy Giáp có một thời gian ở gần Hồ Chủ Tịch. Ông kể chuyện hồi

năm 1950, ông mới lấy vợ được một năm thì bị điều ra công tác tại Việt Bắc và

ở với Cụ Hồ. Ông hỏi ông Hồ: “Sao Bác không lấy vợ mà chịu được”. Ông Hồ

nói: “Mình cũng như các chú thôi, từ rốn trở xuống là 18 tuổi. Từ rốn đến cổ là

40 tuổi. Từ cổ đến đầu là 60 tuổi. Kinh nghiệm của dân ta là lao động suốt ngày,

mệt thì ngủ luôn. Không có việc gì thì đổ trấu ra xay. Buồn ngủ hãy ngủ. Tỉnh

ngủ, dậy liền, đừng có nằm mãi trong chăn. Đừng mặc đồ láng, mềm, mỏng.

Nên mặc quần áo vải. Có cán bộ lên công tác ở Việt Bắc, rỗi việc, ngồi tán gẫu.

Bác bảo cởi lạt sàn nhà ra, sau đó lại bảo buộc lại. Để khỏi “nhàn cư vi bất

thiện”.

Các anh Huỳnh Lý, Nguyễn Trác và Hoàng Dung còn tổ chức cho

chúng tôi gặp ông Vũ Kỳ, thư kí riêng của cụ Hồ.

Cuộc gặp Vũ Kỳ không giúp tôi biết thêm gì về Hồ Chí Minh. ấn tượng

để lại chỉ là hình ảnh của chính Vũ Kỳ. Ông bắt chước tác phong của cụ Hồ từ

cách ăn mặc, cách nói năng. Có cái áo Tôn Trung Sơn khoác ngoài không mặc

lại vắt lên vai. Đi guốc. Câu đầu tiên ông hỏi chúng tôi: “Các đồng chí có bao

nhiêu nữ?”

Anh Nguyễn Khải có lần gặp Vũ Kỳ cũng có nhận xét y như thế: Để râu

dài. áo cánh lụa. Đi guốc. Cầm quạt phe phẩy…

Tôi nghĩ bụng, đã là gia nhân thì bao giờ cũng là gia nhân. Gia nhân của

người thường hay gia nhân của vua chúa thì cũng thế.

Về chuyện làm thơ của Hồ Chí Minh, tôi vẫn cho rằng, ông Hồ có ý

thức sáng tác hai loại: một là loại thơ tuyên truyền thường dùng lối ca vè, cốt

minh hoạ đường lối chính trị. Những bài thơ chúc Tết, mừng xuân cũng thuộc

loại này. Thơ này không sáng tác theo quy luật nghệ thuật. Hai là loại thơ nghệ

thuật diễn đạt tình cảm, cảm xúc thẩm mĩ. Loại này ông cốt làm để giải trí sau

những giờ làm việc căng thẳng, hoặc ở trong nhà tù, khi hoàn toàn không có

cách gì để làm việc cho cách mạng.

Nhiều thằng ngu hoặc cố tình không hiểu đã phê phán tôi về sự phân

biệt này: Thơ Bác Hồ, thơ nào chả là thơ nghệ thuật và thơ Bác là thơ cách

mạng sao lại bảo là để giải trí.

128

Tôi cho rằng chính cụ Hồ có ý thức phân biệt như vậy.

Người ta thường kể chuyện này để ca ngợi đức tính giản dị, khiêm tốn

của cụ Hồ: khi làm những bài thơ tuyên truyền, cụ Hồ thường chuyển cho nhiều

người xem, kể cả chú liên lạc, để nhờ góp ý sửa chữa cho thật dễ hiểu, dễ nhớ

đối với mọi người. Thế là thơ tuyên truyền chứ còn gì nữa. Tuyên truyền thì cốt

nhất là mọi người đều dễ hiểu, dễ nhớ, thế thôi. Nghệ thuật gì mà lại góp ý tập

thể như thế!

Trước kia, hàng năm, vào dịp 19/5, tôi thường được nhiều nơi mời đi

nói chuyện về thơ Hồ Chủ Tịch. Thường có chị Trần Thị Tuyết cùng đi để

ngâm thơ minh hoạ. Chị Tuyết cho biết, khi Hồ Chủ Tịch còn sống, vào dịp

cuối năm, chị thường được gọi đến để ngâm thơ chúc Tết của Chủ tịch và phát

luôn trên đài. Tới dự có cụ Hồ và mấy ông trong Bộ Chính trị. Khi ngâm thơ

chúc Tết, chị để ý thấy ông Hồ có vẻ không quan tâm lắm. Ngâm xong ông

thường bảo chị chuyển ngay sang ngâm Kiều. Tôi hỏi, thường chị ngâm đoạn

Kiều nào. Chị nói, thường Bác bảo ngâm đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích.

Đây là đoạn Kiều nhớ nhà, nhớ người yêu, nhớ quê. Một đoạn thơ buồn.

* *

*

Chung quanh Hồ Chí Minh, đến nay vẫn còn rất nhiều điều bí ẩn không

biết đến bao giờ mới được làm sáng tỏ.

– Chẳng hạn, chuyện vợ con thế nào? Trung Quốc đã công bố Hồ Chí

Minh kết hôn với Tăng Tuyết Minh. Rồi chuyện cô Hà Thị Xuân người dân tộc

Tày và các con (Trung và Trinh gì đó). Ông Trần Độ cho biết, vì cô Xuân cứ

đòi chính thức hoá, người ta bèn giao cho Trần Quốc Hoàn thủ tiêu cả ba chị

em.

Chuyện này nhiều người biết. Có người đã viết ra như Vũ Thư Hiên

trong cuốn Đêm giữa ban ngày. Riêng tôi được biết do giáo sư Ngô Thúc Lanh

được ông Văn Tân kể cho nghe và truyền đạt lại, hai là do một giáo sư dạy Sử ở

Đại học Sư phạm Hà Nội, ba là Dương Thu Hương, bốn là ông Trần Độ. Nhưng

gần đây có người điều tra ra vụ việc này rất tỉ mỉ, rõ ràng, và công bố cụ thể

trên internet: cô Xuân bị thủ tiêu vì hai lý do: một là cô đòi chính thức hoá: điều

này phải do Đảng quyết định, mà Đảng thì không thể chấp nhận. Hai là cô bị

Trần Quốc Hoàn hãm hiếp nhiều lần. Hoàn tuy đã đe doạ cô, nhưng vẫn sợ bị

cô tố cáo. Hắn sai Tạ Quang Chiến đập chết, rồi ban đêm, đặt xác cô ở quãng

đường từ Nhật Tân đi Chèm, bố trí một xe ô tô cán lên, tạo ra một vụ tai nạn

giao thông giả. Còn ba chị em cô Xuân là ba chị em họ. Một cô tên Nguyệt, một

cô tên Vàng. Hai cô này cũng bị thủ tiêu vì đều biết chuyện. Nguyệt mất tích,

không rõ bị thủ tiêu ở đâu. Còn cô Vàng thì bị đập chết và quăng xác xuống

sông Bằng Giang, Cao Bằng.

Theo Tô Hoài, có một hồi người ta định lấy vợ cho cụ Hồ. Một số cô gái

đến cho ông chọn. Ông không chọn ai vì thấy đàn bà mà chẳng ý tứ gì, cứ phơi

quần, slip… rất vô ý. Có một cô người Huế, ông Hồ thích. Nhưng cô này hói

đầu, ông cũng không lấy. Ông nói, nếu có một cô công chúa nước nào thì lấy –

129

lấy vì mục đích chính trị – chắc ông nói cho vui.

Tô Hoài cũng cho biết, Phạm Văn Khoa thạo cả tiếng Pháp lẫn tiếng

Tầu, có lần cùng đi với Hồ Chí Minh sang Trung Quốc (đi xe lửa). Một buổi

sáng, Khoa thấy ông Hồ ở toilet ra, cầm slip vừa giặt, nói: “Không có vợ, khổ

thế!”

– Còn chuyện xuất dương của Hồ Chí Minh? Có phải lần đầu tiên ra

nước ngoài là đi Pháp từ cảng Nhà Rồng?

Anh Nguyễn Nguyên (tức Nguyễn Ngọc Lương), một cán bộ tình báo

cao cấp của ta, cho tôi biết, Nguyễn Tất Thành lần đầu ra nước ngoài là sang

Trung Quốc theo đường dây của Phan Bội Châu. Tất Thành đóng vai một người

bán nước mắm, từ Nghệ An ra – giao liên là cô Chu Bích Viêm, tức bà Cả

Chính (Nguyễn Nguyên đã gặp bà Cả Chính). Cơ sở cách mạng của Phan Bội

Châu ở Hải Phòng lúc bấy giờ là hai cô Nhung và Sâm. Còn cơ sở ở Móng Cái

là hai cô con gái ông Ký nhà đoan tên là Yến và Nhạn.

Bà Cả Chính đã từng đưa Nguyễn Tất Thành qua Hải Phòng, Móng Cái,

sang Trung Quốc gặp Lý Đông A ở Liễu Châu.

Hồi ấy, ở Việt Nam chưa có phong trào cộng sản.

Sau này, cụ Nguyễn Sinh Sắc mới nhờ cụ Phan Chu Trinh bảo lãnh cho

Nguyễn Tất Thành đi Pháp.

– Còn chuyện đường lối cách mạng của Hồ Chí Minh?

Theo Hà Huy Giáp, người đầu tiên phê phán Nguyễn ái Quốc có khuynh

hướng dân tộc chủ nghĩa là Trần Phú. Ông Đào Phan cung cấp cho tôi một tài

liệu: khi thành lập đảng Cộng sản Việt Nam ở Hồng Kông, Nguyễn ái Quốc có

đưa ra một văn bản gọi là chính cương vắn tắt, phân tích tình hình giai cấp sát

với thực tế Việt Nam, nhất là về giai cấp địa chủ (chế độ công điền khiến địa

chủ không phát triển được, vì thế địa chủ ở Việt Nam có thể phân hoá được).

Staline bèn phái Trần Phú về nước, vất chính cương của Nguyễn ái Quốc đi,

thay bằng luận cương Trần Phú đã được đóng dấu ở Mạc Tư Khoa và đặt tên

đảng là Đảng Cộng sản Đông Dương. Staline còn chủ trương vô hiệu hoá

Nguyễn ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam.

Xem chừng Hồ Chí Minh thích tam dân chủ nghĩa của Tôn Dật Tiên

hơn. ông từng dịch cuốn Tam dân chủ nghĩa hồi bị giam ở nhà tù Quảng Tây,

Trung Quốc. Và “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” chính là khẩu hiệu cách mạng

của Tôn Trung Sơn.

Lại có chuyện này: Nguyễn Hữu Đang có lần nói với Hoàng Ngọc Hiến:

Sau cách mạng tháng Tám, Hồ Chí Minh có nói với Đang: Bảo Đại nó thoái vị

sớm quá! ý ông muốn Bảo Đại cứ tiếp tục làm vua để có thể thành lập ở Việt

Nam chính thể quân chủ lập hiến mà ông cho là thích hợp hơn với nước mình.

Sau khởi nghĩa tháng Tám, ông ở chiến khu về muộn, lúc đó phái đoàn Trần

Huy Liệu, Huy Cận đã lên đường vào Huế nhận ấn kiếm của Bảo Đại. Ông

muốn cho người đuổi theo để gọi trở lại, nhưng không kịp. Anh Phạm Tuyên

cho biết, ông cũng rất tiếc Phạm Quỳnh đã bị Việt Minh ở Huế thủ tiêu. Chuyện

lỡ rồi, ông chỉ còn biết mời mấy người con của Phạm Quỳnh ra gặp để an ủi

130

(ông gặp hai bà con gái của Phạm Quỳnh). Hồi mới sang Pháp, Nguyễn Tất

Thành đã từng gặp Phạm Quỳnh (cùng với Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường).

Chắc ông đã hiểu Phạm Quỳnh không phải người bán nước.

Ngoài ra, từ hồi dự hội nghị Fontainebleau ở Paris (1946), Hồ Chí Minh

đã muốn liên hệ với Mỹ và sau này muốn thương lượng hoà bình với chính

quyền Sài Gòn.

– Một bí ẩn nữa là vì sao Hồ Chí Minh đoán rất chính xác mấy thời điểm

lịch sử quan trọng: năm 1945, chấm dứt đại chiến thế giới thứ hai và cách mạng

tháng Tám thành công; năm 1954 chiến thắng giặc Pháp (đoán từ năm 1950);

năm 1975 chiến thắng giặc Mỹ (đoán năm 1960).

Theo Trần Quốc Vượng, vì ông có tử vi.

Năm 1943, khi Hồ Chí Minh viết câu kết bài Diễn ca lịch sử nước ta:

“Bốn nhăm sự nghiệp hoàn thành”, thì ở hội nghị Téhéran, thủ lĩnh ba siêu

cường trong phe Đồng Minh là Staline, Churchill, Roosevelt đoán, chiến tranh

chấm dứt năm1946.

Không lẽ gì Hồ Chí Minh ở Việt Bắc, với một cái đài bán dẫn rất thô sơ,

lại đoán thời cuộc thế giới chính xác hơn ba tay trực tiếp chỉ đạo cuộc chiến

tranh chống phát xít với những thông tin phong phú, cập nhật và những dữ kiện

đầy đủ. Mà ba tay này đâu có dốt nát gì!

Trần Quốc Vượng kết luận: Cụ Hồ có tử vi.

Vượng cũng là tay rất sành sỏi tử vi. Anh nói, ở thư viện quốc gia có

cuốn Tử vi phú đoán của Lê Quý Đôn đã dịch. Vượng đến mượn. Cô thủ thư

nói sách không còn. Bố Trần Quốc Vượng có quen cụ Xước là giám đốc thư

viện, Vượng đến hỏi, cụ Xước nói: Ông Hoàng Minh Giám đến lấy cho Cụ Hồ

đọc rồi. Sách đang ở chỗ Cụ Hồ.

Anh Từ Sơn có tặng tôi tập Di bút của Hoài Thanh (bản đánh máy lúc

chưa xuất bản thành sách). Trong đó có đoạn viết: “Năm 1945, khi quân Tưởng

đã kéo vào dày đặc ở miền Bắc và quân Pháp đã bắt đầu đánh phá ở miền

Nam, anh Tố Hữu có dịp được gặp Bác. Anh thưa với Bác:

– Thưa cụ, một bên thì Tây, một bên thì Tàu, bên nào đáng sợ hơn?

– Tây cũng không đáng sợ. Tàu cũng không đáng sợ. Đáng sợ nhất là

các chú – Ông Hồ trả lời như vậy.

Ngẫm ra đây cũng là một tiên đoán thiên tài của Hồ Chí Minh. Ngày

nay Pháp, Mỹ đều rút hết rồi. Đất nước nếu còn khốn khổ thì đúng là do “các

chú”.

– Một câu hỏi khác đặt ra: Cụ Hồ có ý thức tự thần thánh hoá mình

không? Đã nói ông Hồ không thích làm ông thánh, nay lại nói ông có ý thức

thần thánh hoá? Tôi cho hai chuyện có chỗ khác nhau. Vì yêu cầu chính trị, có

khi phải dùng mưu mẹo, có khi phải diễn kịch nữa – Về mặt này, ông Hồ cũng

khá “siêu” đấy. Dân tộc Việt Nam là dân tộc nông dân nên có tâm lý trọng

người già và sùng bái thần thánh, chứ không tin ở người trẻ, người thường. Cho

nên ông Hồ, năm mươi tuổi đã để râu dài và xưng là già Hồ. Và cũng không

phản ứng gì khi người ta gọi là cha già dân tộc. Theo Trần Quốc Vượng, hồi

131

kháng chiến chống Pháp, Trung ương có giao cho ông Trần Huy Liệu bình tán

những câu sấm Trạng Trình ứng vào Cụ Hồ rồi cho truyền đi để tạo thành dư

luận quần chúng. Đó là chủ trương của Hồ Chí Minh hay chỉ là “sáng kiến” của

Đảng ngoài ý kiến của ông Hồ? Nhưng ông Trần Dân Tiên viết Những mẩu

chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, có chỗ ví cụ Hồ như con rồng ẩn

hiện trong mây. Mà Trần Dân Tiên chính là ông Hồ chứ ai!.

– Như đã nói, vì lí do chính trị, Hồ Chí Minh nhiều khi phải diễn kịch,

sống cứ phải “diễn” như thế, kể cũng khổ. “Không có gì quý hơn độc lập tự

do”. “Diễn” tức là bị tước đi của mình quyền sống tự do chứ còn gì nữa! Liệu

đã ai hiểu cho ông cụ nỗi khổ này?

Những trò diễn của Hồ Chí Minh nói chung có tác dụng chính trị rất tốt

đối với tầng lớp bình dân. Nhưng đối với trí thức, có khi lại phản tác dụng. Năm

1946, Hồ Chí Minh ở hội nghị Fontainebleau về nước có Trần Hữu Tước và

một kỹ sư tên là Quang theo về. Trên tàu, Cụ Hồ diễn trò nhẩy son lá son với

các thuỷ thủ. Quang thấy thế lấy làm khó chịu, mất tin tưởng. Ông ta bỏ không

theo Hồ Chí Minh nữa. Theo Tô Hoài, ông ta sau này về sống ở Nha Trang.

Nhưng Hoàng Ngọc Hiến lại đưa ra một thông tin khác: Trần Hữu Tước sau này

có gặp Quang rửa xe máy ở Sài Gòn.

– Cuối cùng là ngày sinh và ngày mất của Hồ Chí Minh. Ngày sinh cũng

do ông tự đặt ra, ai cũng biết rồi. Còn ngày mất? Đúng cái ngày ông đọc Tuyên

ngôn độc lập (2/9)

Theo Hoàng Ngọc Hiến, ông Hồ chủ động chết vào cái ngày lịch sử ấy.

Ông ấy đáo để lắm đấy! Một người quyết lấy lại họ Hồ là dòng máu thật của

mình (Hồ Sĩ Tạo) thì cũng có thể quyết chết vào đúng ngày sinh của cả nước,

ngày mà ông đọc Tuyên ngôn độc lập.

– Nhưng chủ động chết làm sao được khi người ta luôn chầu chực quanh

mình – Tôi cãi lại Hiến.

– Thì cũng có lúc người ta ra ngoài chứ. Lúc ấy chỉ cần dứt hết những

dây dợ của cái ống thở ôxy là chết luôn chứ sao! – Hiến khẳng định thế.

Một phán đoán không phải là không có lý!

Hà Nội, ngày 6.7.2006.

132

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s