hồi ký nguyễn đăng mạnh (chương 8)

 

Tố Hữu

Nhớ lại ba, bốn chục năm về trước, vào những năm 60, 70 của thế kỷ

vừa qua, biết bao thế hệ đã từng mê thơ Tố Hữu. Mê thật sự. Đọc những bài như

Bài ca mùa xuân 61 mà chảy nước mắt. Hồi ấy ông rất xứng đáng với danh hiệu

“Lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam”. Để phục vụ cách mạng và

kháng chiến, thơ ca hồi ấy bám rất sát từng nhiệm vụ chính trị, nên thường viết

chung một số đề tài: anh bộ đội, anh giải phóng quân, Bác Hồ, anh Trỗi, mẹ

Suốt, chị Trần Thị Lý, miền Nam thành đồng Tổ Quốc, miền Bắc tiến lên chủ

nghĩa xã hội… Ngẫu nhiên mà thành ra những cuộc thi thơ toàn quốc. Trong

những “cuộc thi” như thế, Tố Hữu hầu như đều chiếm giải nhất.

Vinh quang của Tố Hữu đâu chỉ ở tư cách nhà thơ. Về chính trị ông

cũng lên vòn vọt, có lúc tưởng như là người kế cận Lê Duẩn, thay Lê Duẩn đến

nơi. Cho nên ngày Tết, người ta xếp hàng nối đuôi nhau ra tận ngoài đường để

chúc Tết Tố Hữu. Loại như Nguyễn Văn Hạnh, Hà Xuân Trường thì phải xếp

hàng mãi tít ngoài đường, rất xa. Còn Hoàng Xuân Nhị thì chỉ rình rình chen

ngang… Lúc bấy giờ được viết về Tố Hữu cũng danh giá lắm! Tôi nhớ có lần

anh Lý Hải Châu, giám đốc nhà xuất bản Văn học có ngỏ ý giao cho tôi làm

Tuyển tập thơ Tố Hữu. Định thế thôi chứ đã giao thật đâu. Vậy mà tiếng đồn ra,

nhiều người đã mừng cho tôi. Anh Xuân Diệu gặp tôi, bắt tay chúc mừng: “Thế

là Mạnh bắt đầu được tiếp cận với nhà đỏ rồi đấy!”

Thế mà bây giờ! Không thể ngờ Tố Hữu xuống giá nhanh chóng và

thảm hại đến thế, ở cả hai tư cách: nhà chính trị và nhà thơ. Hầu như các thế hệ

làm thơ bây giờ không ai còn làm theo phong cách Tố Hữu nữa.

ở khoa Văn Đại học Sư phạm Hà Nội (có lẽ khoa Văn các trường Đại

học khác cũng thế) có điều này, nếu Tố Hữu sống lại chắc buồn lắm: hàng năm

cán bộ giảng dạy phải hướng dẫn hàng trăm sinh viên cao học, hàng chục

nghiên cứu sinh làm luận án thạc sĩ, tiến sĩ. Đề tài ngày càng bí, quanh đi quẩn

lại khai thác mãi những Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nam

Cao, Thạch Lam, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh

Châu… hầu như đã cạn kiệt. Rất bí. Cả thầy lẫn trò đều bí. Vậy mà không ai

chịu làm về Tố Hữu, tuy Tố Hữu vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong chương

trình phổ thông và đại học như một tác gia lớn của nền văn học hiện đại Việt

Nam.

Kể cũng lạ! Tôi cho rằng hiện tượng này cần được giải thích, nhất là đối

với những thế hệ lớn lên sau 1975, đặc biệt là sau 1986, khi đất nước bước vào

thời kì đổi mới. Tất nhiên, giải thích theo quan điểm lịch sử.

Theo tôi tốt nhất là tôi thuật lại những lần được trò chuyện với Tố Hữu

trước 1986. Chính những lời phát biểu của ông về chính trị, về thơ ca sẽ giải

thích cụ thể sự thăng trầm của số phận ông. Ngoài ra cũng phải hiểu ông đã

quan niệm về thơ như thế nào và làm thơ như thế nào. Vì vẫn phải giảng thơ

ông trong nhà trường, vì dù sao ông cũng là một nhà thơ tiêu biểu nhất, vẻ vang

133

nhất, có vị trí quan trọng trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại và trong chương

trình môn văn ở các trường phổ thông và đại học.

Tôi được gặp riêng Tố Hữu hai lần, không kể những lần được nghe ông

nói chuyện ở các hội nghị.

Qua hai lần tiếp xúc với Tố Hữu, tôi thấy ông là người thông minh, nói

rất giỏi. Một nhà hùng biện. Ông rất tin ở những điều mình nói như là những

chân lý tuyệt đối. Nói rất sôi nổi, say sưa, không cho ai cắt ngang dòng biện

thuyết của mình.

Cuộc tiếp xúc lần thứ nhất là năm 1967. Địa điểm: nhà riêng Tố Hữu,

76 Phan Đình Phùng.

Hồi ấy gặp riêng Tố Hữu rất khó. Anh Huỳnh Lý, lúc ấy là chủ nhiệm

khoa Văn Đại học Sư phạm Vinh, đã liên hệ trước như thế nào đó mới xin phép

được. Rất tiếc cuốn sổ tay tôi ghi chép về cuộc tiếp xúc này tôi đã để thất lạc

mất thành ra chỉ còn lưu lại được trong óc một vài ấn tượng.

Tố Hữu nói về chính trị là chính. Ông say sưa ca tụng dân tộc mình

trong chiến tranh chống Mỹ vừa thông minh vừa anh hùng. Ông nói về Nguyễn

Văn Trỗi, Nguyễn Văn Bé. Ông rất lạc quan và hoàn toàn thoả mãn về Đảng, về

cách mạng Việt Nam chỉ có tiến lên theo đường thẳng. Con đường chỉ có toàn

ánh sáng. Cách mạng Việt Nam không hề có bi kịch.

Tố Hữu tỏ ra rất phục Lê Duẩn. Ông cho Lê Duẩn đúng là một penseur.

ấn tượng khó quên nhất của tôi là ông nói liên miên, nói rất nhiều. Tôi

nhớ ông nói từ khoảng hai ba giờ chiều. Nói rất bốc. Lúc đầu còn ngồi ngay

ngắn, sau co chân xếp bằng tròn trên salon. Tôi ngồi sát cạnh, thỉnh thoảng ông

còn vỗ mạnh vào đùi tôi, hỏi một câu gì đó. Hỏi không phải để nghe trả lời, mà

là cách gây chú ý, để nghe ông nói tiếp. Ông nói cho đến khoảng năm giờ chiều.

Anh thư kí riêng đi ra, xem đồng hồ, ý nhắc ông nghỉ cho đỡ mệt. Ông không

để ý, đứng dậy bật đèn, nói tiếp.

Thực tình lúc ấy tôi mót đi tiểu quá. Ngồi ngay cạnh ông, đứng lên

không tiện. Vả lại biết đi to Toalét ở chỗ nào! Mà cũng nghĩ ông sắp nghỉ rồi, vì

trời đã muộn. Nhưng ông cứ nói, nói liên miên, nói say sưa hào hứng. Lúc đó,

thực bụng tôi nghĩ: Trên đời không có gì nhảm nhí bằng chuyện văn chương,

chỉ có đi tiểu là quan trọng nhất.

Nhưng cuối cùng thì ông cũng nghỉ, có lẽ do cách nhắc khéo của anh

Huỳnh Lý. Ông bắt tay từng người. Đến lượt tôi, không hiểu sao, ông lại còn

giữ tay, nói tiếp mấy câu nữa. Sợ quá!

Cuộc tiếp xúc thứ hai. Địa điểm: ở ngôi nhà bát giác cạnh trường Chu

Văn An bên Hồ Tây, năm 1980.

Lần này do anh Đoàn Trọng Huy, phó chủ nhiệm khoa Văn Đại học Sư

phạm Hà Nội liên hệ được. Lúc này tôi đã được chuyển ra công tác tại Hà Nội.

Cũng như lần trước, Tố Hữu vẫn nói nhiều, nói liên miên. Ông nói về

chính trị, về thơ, về việc giảng dạy văn trong nhà trường. Sau năm 1975, tình

hình đất nước đã ít nhiều đổi khác. Vì thế ông cũng nói đến chuyện mở cửa, đến

chống chủ nghĩa Mao, đến mở rộng đề tài thơ và phát triển phong cách thơ.

134

Nhưng tinh thần vẫn như cũ, vẫn Đảng ta là đúng nhất, sáng suốt nhất,

nhân dân ta, dân tộc ta là tuyệt vời, Mác Lênin là chân lý tuyệt đối, và văn học

gắn với chính trị, phục vụ chính trị là chân lý muôn thuở.

Dưới đây là lời độc thoại triền miên của Tố Hữu, tôi ghi lại được:

” Vấn đề mối quan hệ giữa chính trị và văn nghệ, tưởng không còn

chuyện gì nữa, hoá ra không đơn giản. Vẫn còn có nhiều người chưa nhận ra cái

lẽ lớn ấy.

Văn học phải góp phần tạo ra con người mới, con người xã hội chủ

nghĩa, để bảo vệ và xây dựng đất nước. Với dân tộc ta, động viên hy sinh xương

máu dường như dễ hơn là động viên đổ mồ hôi, đổ trí óc để tăng năng suất lao

động, cải thiện đời sống cho mình.

Tiêu chuẩn đánh giá một nền văn học lớn là góp sức tạo ra con người

mới. Đó là thước đo, nói là cao nhất cũng được, nói là duy nhất cũng được.

Cũng có thể gọi đó là quan điểm thẩm mỹ của ta.

Đúng là các vấn đề văn học nên đưa ra tranh luận, kể cả với quan điểm

đối địch. Nên làm quen với những cách suy nghĩ khác nhau. Nên học cả những

vũ khí của địch. Muốn hay không muốn, trái đất cũng có những cuộc giao lưu

như thế. Không nên bịt cửa. Trong thời đại này, không có dân tộc nào sống như

thế. Chủ nghĩa Mao nẩy sinh trong sự bịt cửa, tự bịt cửa trong ngu dốt và tàn

bạo.

Phải mở cửa. Mở cửa để đón ánh sáng và gió mát chứ không phải để

đón ma quỷ. Vì đời có cả thiên thần và ma quỷ… Phải biết đóng cửa, mở cửa

một cách khoa học. Mở cửa cũng còn để trao đổi với ngoài. Có vay có trả, có

góp cho đời. Ta rất tự hào về văn học ta là văn học của một dân tộc tiên phong,

có vẻ đẹp của nó.

Quy luật từ xưa đến nay là quy luật riêng chung.

Xưa cái chung lấn át cái riêng.

Nay cái riêng lấn át cái chung.

Cần hoà hợp riêng chung. Cái chung mà không phát huy cái riêng, cái

riêng nó sẽ quay lại chống lại cái chung.

Làm chính trị là l’art des possibités. Làm sao sử dụng được đến ngón tay

út của con người. Tập thể là vô cùng. Con người cũng là vô cùng. Nói vượt

mình là không đúng. Nên nói phát huy khả năng của mình. Làm sao vượt mình

được! Chủ nghĩa Mác ý thức được khả năng vô tận của con người.

Con người là gì? Cuộc sống là gì?

Là vật chất, trí tuệ, tình cảm – là con – người – mới.

Khổng Tử phủ nhận “con” là dối trá. Thực ra Khổng Tử coi con người

là trâu chó.

Con người khác con vật là có trí tuệ và tình cảm. Có cái đầu pensant.

Mao không cần. Tư sản cần nhưng chỉ cần để phục vụ nó. Làm trái nó, nó chặt

đầu. Mọi chế độ bóc lột đều ngu dân ở những mức độ khác nhau, mức hạn chế

khác nhau, do lợi ích giai cấp. Chỉ có chủ nghĩa cộng sản là parti de

l’intelligence.

135

Cái “con” là nécessité. Nhưng trí tuệ, tình cảm mới là đặc trưng của

người. Chủ nghĩa xã hội là làm chủ tập thể cộng với công nghiệp hoá. Lênin thì

nói: Chính quyền Xô viết và điện khí hoá…

Bác Hồ thì nói độc lập tự do. Tự do là chuyện muôn đời. Nécessité

comprise là chuyện muôn đời. Vĩ nhân là làm chủ quy luật và chiến đấu cho tự

do. Đúng thế. Nhưng thực sự là người tự do, khó lắm! Hạnh phúc lớn nhất là tự

do, là làm chủ.

Uống ngụm nước suối trong đỡ khát

Trông trời cao mà mát tâm can.

Nước suối mà sao ngon? Vì đó là tự do, là nécessité, quy định bởi cái

nécessité cao hơn tức là cứu nước. Tôi chỉ nói tới nói lui những điều đã cũ,

không có gì mới. Vì không cần nói gì hơn.

“Bay vào vũ trụ” là nécessité

Dép lốp là nécessité.

Tôi thừa nhận dép lốp, cơm khoai, vì đó là nécessité. Song tôi cũng có

cái đầu để mơ ước chứ! Cho nên tôi thấy bay vào vũ trụ cũng là nécessité.

Nói vị nghệ thuật là dối trá. Ai chả vì cuộc sống này khác. Chỉ có người

cộng sản là nói ouvertement. Phong kiến, tư sản không dám nói. Còn tiểu tư sản

là tù binh của mọi nguồn, bơi trong mọi dòng nước, tự lừa dối mình. Tiểu tư sản

không có đời sống độc lập. Ta nói ouvertement vì ta nói sự thật và chỉ có ta mới

nói được.

Thanh niên bây giờ có xu hướng “Tây loăng quăng hoá”, dễ mất tính

dân tộc. Ông cha ta bản lĩnh lắm, mãnh liệt lắm nên mới tránh được Tây hoá.

Nhưng dân tộc phải nhịp theo thời đại. Đó là sự thật khách quan.

Thời đại là: ba dòng thác cộng với cách mạng khoa học kỹ thuật.

Nhật Bản đã trở thành 2 ème puissance vì có ba yếu tố:

1. Tinh thần Đại Nhật Bản (Đảng Cộng sản lẽ ra phải tranh lấy ngọn cờ

dân tộc. De Gaulle và tư bản Nhật nắm dân tộc hơn đảng cộng sản).

2. Cách mạng khoa học kỹ thuật

3. Quản lý xã hội, quản lý kinh tế rất khôn ngoan (quản lý theo lối tư

bản cộng với truyền thống gia trưởng)

Conscience và Science. Thời đại này có hai cái đó thì thắng. Trẻ con ta

có Conscience politique rất sớm. Nói phải có lý nó mới phục, nó mới nghe.

Tài nguyên thì ta có dầu, có sắt. Cho nên lắm kẻ đã ve vãn “xôn xao

ngoài cửa thiếu gì yến oanh”

Dân tộc ta có truyền thống rất mạnh. Tinh thần thời đại cũng mạnh. Hai

cái đều mạnh. Nhiều dân tộc phải xấu hổ vì ông cha của mình: ăn cướp, quân

phiệt, hoặc đầu hàng khiếp nhược.

Dân tộc ta, cái dominant là nhân dân. Không cần tư sản. Do chống ngoại

xâm mà hình thành dân tộc. Chống xâm lược trên quy mô lớn nên dân tộc lập

tức gắn với nhân dân.

Dân ta profondement – athée – vô thần – pratique. Lừa cả thần, lừa cả

Phật (Trạng Quỳnh). Bất chấp Khổng, Phật, Thiên Chúa. Rất matérialiste. Cái

136

nôi dân tộc ở chính Việt Nam. Nhân dân ta là miếng đất lí tưởng cho chủ nghĩa

cộng sản.

Dân tộc – Nhân dân – pratique. Lại có tính nhân dân nữa. Thừa nhận giá

trị con người rộng rãi lắm “Thương người như thể thương thân”. Nhân ái lắm!

Không lấy mình làm chuẩn như Khổng Tử “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân”. Tình

làng xóm, cha con, vợ chồng rất khác đạo Nho. Tầu nói trọng nghĩa khinh tài,

đào viên kết nghĩa mà dối nhau, giết nhau.

Thời đại ta có chủ nghĩa Mác nên tránh được tự phát, tuỳ tiện. Cái yếu

nhất của ta là khoa học kĩ thuật. Đảng đề ra cách mạng khoa học kĩ thuật là then

chốt, trúng quá!

Cuộc thắng Mỹ của Việt Nam lớn lắm. ảnh hưởng đến nhiều dân tộc

trên thế giới. Họ không sợ Mỹ nữa. Mỹ không dám gây sự, không dám có một

Việt Nam thứ hai.

Tố Hữu ngừng lại một lát rồi tiếp: “Đấy là tất cả những gì tôi đã nghĩ và

đã nói bằng thơ.

Từ Từ ấy tôi vẫn nói thế thôi: lẽ phải, chân lý, tình cảm. Chân lý chói

qua tim. Chân lý phải qua tim mới dẫn tới hành động. Tình cảm lớn phải có

chân lý lớn chỉ đạo. Mao không có tim và chân lý. Tôi nói Mỵ Châu “Trái tim

lầm chỗ để lên đầu” làm mất nỏ thần. Mao thù. Tầu bay Việt Nam không cho

qua Trung Quốc.

Thơ Tố Hữu là nói lẽ phải lớn của dân tộc và thời đại. Tôi viết bài “Một

nhành xuân”. Có lẽ người ta đã quên lẽ phải lớn chăng, nên phải nói lại. Người

ta nói tầm bậy về Đảng quá. Apolitique nặng. Không biết lịch sử dân tộc do

Đảng đem lại. Chủ nghĩa công thần, tính công trạng mình nhiều quá mà không

tính công Đảng . Hoàng Văn Hoan tách Đảng, thành phản quốc. Còn gắn với

Đảng là mùa xuân vĩnh viễn.

Nhà văn phải có message nhắn gửi cho đời. Vấn đề là có cái gì đáng

nhắn gửi thật không? Chuyện văn là chuyện đời, chuyện lẽ phải.

Nghệ thuật phải có hình thức adéquate 100%. Nhưng đó là chuyện dĩ

nhiên. Art là personnel, không phải individualiste. Rất riêng song không cá

nhân chủ nghĩa.Bên cạnh hoàng anh, hoạ mi, phải có sẻ sẻ, chim chích, thích

chứ, vui chứ! Nhưng cá tính là gì? Cá tính có ý nghĩa thực là góp một tiếng nói

cho đời. Hoạ mi hót mà đời insensible thì phục vụ ai, có ích gì, vô nghĩa.

Có người chủ trương viết cho mai sau, không cần đời chấp nhận. Vô lý.

Mai sau ai sinh ra? Trên trời rơi xuống à? Người mai sau là ai? Chẳng qua là

trốn dư luận, ai biết mai sau là gì!

Nghệ sĩ phải sống với thời đại của mình. Có convention, có giao ước

của nó chứ! Rút lại phải sao cho người đương thời chấp nhận.

Có nhà thơ chỉ nói tình yêu, tình bạn, hoa đẹp. Thích chứ! Có người nói

thời buổi chiến tranh không nên vẽ phong cảnh, vẽ hoa. Tầm bậy! Cảm thụ

được cái đẹp của thiên nhiên muôn hình muôn vẻ, lớn lắm chứ! Nhưng phải bàn

thế nào là đẹp. Rút cuộc là trở về hunanisme.

Rất mừng là thế hệ trẻ đang lên. Lê Thị Kim có bài Cỏ. Tôi không viết

137

được. Yêu thiên nhiên và yêu tình yêu. Khánh Chi rất nên ủng hộ. Tuổi mình

không còn là tuổi tình yêu, nói gì được nữa.

Rất may là thời đại ta cùng tồn tại bốn thế hệ: thế hệ già, thế hệ thời

chống Pháp, thời chống Mỹ, thời xây dựng chủ nghĩa xã hội. Già có vẻ đẹp của

già (đừng có lẩm cẩm). Trẻ biết đâu mà nói. Mỗi thế hệ có vẻ đẹp riêng, có ưu

thế riêng. Hãy nói to lên những điều đẹp nhất của mình.

Tôi rất chú ý từ ngữ, âm điệu, nhạc điệu. Không dùng từ ẩu bao giờ.

Thơ phải tiết kiệm, không nói dài. Tôi không có khả năng sáng tạo từ mới. Từ

vựng của tôi nghèo lắm! Từ ít và không thông minh như của Chế Lan Viên.

Phạm Tiến Duật, Bằng Việt cũng lắm từ, chịu khó tìm tòi, sáng tạo ngôn ngữ.

Chỗ yếu của tôi là thường dùng từ ngữ quen thuộc. Không nói được điều

gì bất ngờ, làm nên sự giật mình về hình thức.

Nhạc điệu ngôn ngữ Việt Nam hay lắm. Âm thanh diễn đạt chính xác,

cụ thể, nhiều giọng điệu. Mỗi bài thơ phải tìm một giọng thích hợp: Emily con,

Kính gửi cụ Nguyễn Du, Theo chân Bác… Bác thích loại thơ rigoureux. Bác rất

Classique. Vì thế Theo chân Bác phải dùng thể thất ngôn mới thích hợp.

Nhịp sống thay đổi, cũng phải tạo nhạc điệu mới. Phải phá thể, phá

cách. Lục bát cũng thế:

“Thác, bao nhiêu thác cũng qua”

Các cụ xưa không làm thế.

Tôi rất nghiêm trong việc dùng chấm và phẩy. Học sinh bây giờ chấm

phẩy bừa quá. Phải học tính chính xác, khoa học, khẩn trương, hoạt bát. Ông bà

ta không làm được điều đó vì nhịp điệu nông nghiệp quen rồi.

Tôi cố gắng phục vụ mọi người. Xã hội ta có ba loại:

– Loại văn hoá thấp: Trình độ cấp I. Người lao động phần lớn ở mức độ

này.

– Loại trình độ cấp II, cấp III, tuổi 30, 40. Loại này cũng có hàng triệu

người.

– Loại đại học. Trí thức.

Bài Emily,con… phục vụ độc giả từ trung học trở lên. Viết cho loại này,

tiện, vì cùng loại với tác giả. Có thể làm một cách tự nhiên, không mất công.

Viết cho loại một cực lắm. Đối tượng là dân gian. Bài Ba muơi năm đời

ta có Đảng viết cho hàng chục triệu người. Gọi là vè rất đúng, là khen, vì dụng

ý của tôi là làm vè.

Bài Mẹ Suốt viết cho chính mẹ Suốt. Nhưng không giữ mức vè. Đó là

bài thành công với nhiều tầng lớp.

Bài Theo chân Bác phải vừa hợp phong cách Bác, vừa phục vụ toàn dân,

cho cả trí thức. Dùng thất ngôn có thể giải quyết được.

Bài Nước non ngàn dặm chủ yếu nói cho miền Nam. Cần gợi cảm nên

dùng lục bát là tiện. Nhưng có savant hơn một chút. Cấu tứ không khó lắm!

Khó là forme nào, giọng nào. Năm ba câu đầu mà bắt được giọng rồi thì dễ lọt.

Câu đầu lợi hại lắm. Bài Một nhành xuân tôi đã làm năm năm trước.

”Năm 20 của thế kỉ XX”. Sau nghĩ làm lý lịch làm gì, anh là gì mà khai lí lịch!

138

Tôi phải nghĩ hai câu mở đầu khác:

Vâng xin kể cùng Xuân đồng chí

Chuyện riêng chung một cuộc đời bình dị.

Thường khó làm câu đầu và câu cuối. Câu cuối phải gợi ra cái gì rộng

hơn cái mình nói trong thơ. Phải mở, không được đóng. Đóng lại là vô duyên.

Đọc câu cuối người ta còn nghĩ, còn vơ vơ vẩn vẩn, thế hay hơn.

Còn từ câu đầu đến câu cuối không biết trước, không tự giác. Trước khi

viết nghĩ nhiều. Khi viết quên đi và thả cho xúc cảm, cứ như tìm hoa trong đêm.

Thơ kị nhất đọc câu trước người ta đoán được câu sau. Chính mình cũng không

biết, không ngờ. Phải cho thơ tự nó sinh sôi, phát triển. Có ai đó nói rằng, nhà

thơ hoàn toàn biết rõ tiến trình sáng tác một bài thơ, hoàn toàn biết trước câu

thơ cuối cùng của tác phẩm. Tôi thì có khi làm xong bài thơ, cũng ngơ ngơ ngác

ngác về tác phẩm của mình. sáng tác là cảm xúc không luôn luôn tỉnh táo. Văn

xuôi có tỉnh hơn chăng? ở đây có những yếu tố ngẫu nhiên, tình cờ. Có khi cũng

không biết là hay hay dở nữa kia. Anh Xuân Diệu hỏi tôi, sao anh lại tạo ra

được hai câu: “Nỗi niềm chi rứa Huế ơi, Mà mưa xối xả trắng trời Thừa

Thiên”? Tôi cũng không biết sao mình lại tài thế!

Thơ có quy luật riêng của nó.

Phạm Tiến Duật là anh lính thì hay. Đến lúc luận là chết. Vòng trắng.

Sao đời lại tự tử! Hai lần tự tử! Giết anh và giết người chết rồi. Không hiểu đời

đã luận đời!

Trần Đăng Khoa đang dở dang, hết trẻ con, nhưng chưa thành người

lớn. Nói giọng ông già là trật.

Phải luôn đề cao thế giới quan, nhân sinh quan. Nhưng đối với lớp trẻ,

nó thấy khắc khổ quá. Phải nói đạo lý thế nào đấy không xa lạ với nó. Nên đề

cập đến tất cả những gì nó quan tâm. Đừng nói đại nghĩa trước mà phải đi từ

tiểu nghĩa trước (tình yêu, tình bạn). Từ bỏ tiểu nghĩa, nó không nghe đâu!

Không chấp nhận tình yêu và thơ tình là không đúng, là nihilisme. Thơ tình là

loại thơ khó nhất: nói được cái gì mới? Tôi không làm được.

Nói thơ Tố Hữu không nói hết mọi vấn đề là đúng. Nhưng cho rằng thơ

Tố Hữu chỉ nói cái to không nói cái nhỏ thì oan. Nhưng chuyện cụ thể chỉ là cái

cớ để nói cái to. Cái tật quen của tôi nó vậy. Tố Hữu có nói cả hoa và rác đấy

chứ. Nhưng phải có trách nhiệm, phải làm cách mạng, phải quét rác (Tiếng chổi

tre)…

Bài Hồ Chí Minh. Khi viết bài này, tôi chưa được thấy Bác, chỉ biết qua

về Bác, chưa đọc gì của Bác. “Vung gươm lắp súng” là nghĩ thế, viết thế.

Nhưng nói “Người lính già” là bạo, thế mà đúng. Lúc bấy giờ nói thế là bạo,

trái với xu hướng quan niệm về lãnh tụ, về vĩ nhân, lúc đó. Đúng, Bác là người

lính.

Bà má Hậu Giang. Có chuyện thật nghe nói ở Ban Mê Thuột: một bà

má nấu nồi cơm to, bị Tây chặt đầu. Còn phịa ra cả. Lúc đó Bắc Sơn thất bại,

Nam kỳ thất bại. Tư tưởng défaitisme, cần góp phần khôi phục lại niềm tin.

Ly rượu thọ. Có chuyện một viên tướng có bà mẹ yêu nước. Còn chuyện

139

chúc thọ là bịa.

Mẹ Suốt, có chuyện đẻ con bị xẩy, có chuyện vải màn nguỵ trang thật

và cũng có hỏi mẹ mấy câu. Nhưng đặt thêm ra lời hỏi và câu trả lời. “Cá tôm

cũng sướng” là bịa.

Nhân tiện thấy ông nói về những bài thơ cụ thể, tôi tranh thủ hỏi về bài

Ân hận tôi đọc trên báo thời Mặt trận dân chủ Đông Dương, đề tặng một “nàng

trinh nữ” nào đấy. Ông nói bài này làm trong nhà tù. Hồi ấy yêu một cô. Cô ấy

đi lấy chồng. Đơn giản thế thôi.

Nói mãi cũng mệt. Tố Hữu nghỉ, uống nước .

Qua ý kiến của Tố Hữu, thấy ông quả là một nhà thơ có kinh nghiệm.

Và không phải là không có tài.

Nhưng vì sao thơ ông không có giá trị lâu dài? Có lẽ vì ông chọn cho

mình con đường làm thơ chính trị. Ông đã đáp ứng xuất sắc tâm lý chính trị của

dân tộc một thời. Nhưng thời ấy đã qua rồi.

Thơ tuyên truyền chính trị nên phải đơn nghĩa. Và vì phải hướng chủ

yếu về đối tượng công nông binh, nên phải sử dụng những thể điệu truyền thống

kể cả lối ca vè và phải dùng những hình ảnh, những ngôn từ quen thuộc, tránh

sáng tạo hình ảnh và từ ngữ mới lạ.

Tố Hữu lại tiếp tục nói. Ông chuyển sang nói về giáo dục, về việc dạy

văn. Ông cho rằng muốn dạy tốt phải dựa trên nghiên cứu khoa học. Giáo viên

không được tiếp xúc với các công trình khoa học thì như người lính ra trận

không có vũ khí. Giáo viên văn học là giáo viên khổ nhất mà đáng lẽ sướng

nhất. Học sinh nộp bài như nộp thuế.

Ta còn thiếu những công trình khoa học có sức thuyết phục. Tôi chưa tin

có ai đã dạy Kiều, hiểu Kiều một cách đầy đủ. Và liệu đã có ai hiểu hết một bài

Bình ngô đại cáo. Bài văn lạ lùng trên nhiều mặt. Lượng thông tin ghê gớm.

Từng từ có giá trị xã hội, đại diện cho một thực thể xã hội. Trí tuệ, tư tưởng ghê

gớm lắm: “Lấy nhân nghĩa”, “lấy chí nhân”. “Chí nhân” thời ấy là gì? “Cường

bạo” nội dung thời ấy là gì? “Trúc chẻ ngói tan”phải là một chiến dịch ghê

gớm lắm. Bao nhiêu ý nghĩa nhận thức!

Thày giáo văn học là đắt nhất. Nghề này không chỉ đòi hỏi hiểu biết.

Anh phải sống đẹp. Thông tin văn học khác. Phải gây hiểu biết và xúc động thật

sự. Không cảm thụ được và truyền đạt được cảm xúc thì nghề dạy văn là vô

nghĩa.

“Đau đớn thay phận đàn bà”, không có gì sáng tạo cả mà hay, vì là

tiếng kêu giữa trời cho ba trăm năm sau. Thiên tài là sự nhuần thấm máu thịt

đến mức như như là cảm quan ngẫu nhiên, tạo ra cái đẹp mà không biết. “Long

lanh đáy nước in trời”. “Long lanh” sau mới thấy “đáy nước” và thấy “trời”.

Được nghe, hiểu một câu thơ như thế, chết cũng sướng.

Nếu loài người hiểu hết vẻ đẹp của mình thì là thiên thần. Là thoát ra

khỏi tấn bi kịch lớn. Bi kịch của loài người là không ý thức được vẻ đẹp của

mình, do mình tạo ra, và tất cả thấy cần phải sống đẹp như thế. Làm sao một

dân tộc rất đẹp như Campuchia lại bị tiêu diệt có vẻ dễ dàng như thế? Tôi vẫn

140

suy nghĩ mãi về điều đó.

“Phải đặc biệt coi trọng giáo dục, coi trọng văn học. Chủ nghĩa xã hội

đâu phải chỉ cần cơ sở khoa học kỹ thuật. Con người còn cần tâm hồn nữa chứ.

Nếu không chỉ là con thôi, một thứ con cao cấp thôi”.

ý kiến của Tố Hữu về giáo dục, về dạy văn nói chung là đúng, tuy không

có gì mới mẻ đặc sắc. Sức hấp dẫn vẫn chỉ là ở nhiệt tình sôi nổi và niềm tin

mãnh liệt, đã trở thành phong cách riêng, khẩu khí riêng của ông.

Lúc đó anh Đoàn Trọng Huy vừa mua được cuốn Tuyển tập thơ Tố Hữu

do Hà Minh Đức soạn. Anh xin chữ kí của Tố Hữu. Tôi đọc bài Mẹ Tơm, thấy

câu thơ “ Sống trên cát, chết vùi trong cát” in là “ Sống trên cát, chết hoà trong

cát”, bèn nhân tiện hỏi Tố Hữu: hoà hay vùi? Tố Hữu nói “vùi chứ hoà thì còn

văn chương gì nữa”. Ông tỏ ra tán thành lời bình của Hoài Thanh về chữ vùi

trong bài thơ này.

* *

*

Tố Hữu trông người nhỏ nhắn, nhẹ nhõm như một thư sinh. Nhưng rất

hách. Tôi đã nghe Hoàng Cầm nói, ông đã từng ra lệnh bắt Trần Dần, Tử Phác

bằng sáu tiếng ngắn gọn: “Gọi nó về, bắt lấy nó”. Tôi đã chứng kiến Nguyễn

Đình Thi sợ ông như thế nào, tôi ví như con cua co dúm người lại trước con

ếch.

Tôi đã nghe Hoàng Ngọc Hiến thuật lại về Tố Hữu trong cuộc họp nhà

văn đảng viên hồi tháng sắu năm 1979. Nguyên Ngọc trình bầy bản đề cương

chống Mao-ít. Tố Hữu đã quạt cho Nguyên Ngọc một trận, cho đây là hiện

tượng “ngược dòng”, ông có cách nói mỉa mai rất ác. Nhân thấy Nguyên Ngọc,

người thấp, nhân làm đổ cái micro trên bàn chủ tịch đoàn, ông nói: “Cái bục

này đối với tôi hơi cao, đối với anh Nguyên Ngọc thì cao quá!”. Ông còn đến

vuốt râu Nguyên Hồng: “Để râu sớm quá đấy, để trốn họp chi bộ chứ gì!”. Gần

đây Kim Lân còn cho tôi biết, hôm ấy, Tố Hữu đến chỗ Kim Lân, nói: “Dạo

này viết ít quá đấy!”. Kim Lân buột miệng nói: “Bác lại phê bình em rồi!”. Có

vậy thôi mà nghĩ sợ quá. Kim Lân nói: “Tôi nhớ trong truyện Tam quốc, có hai

anh bạn thân, sau một anh làm to, anh kia đến chơi, nói suồng sã về những kỉ

niệm thuở hàn vi. Sau bị tay kia cho người đuổi theo thủ tiêu – Sợ quá!”.

Tôi chắc Kim Lân sợ thì có sợ, nhưng làm gì đến nỗi thế. Bọn nhà văn

là chúa hay phóng đại.

Nguyễn Khải cũng kể lại, hôm ấy anh ngồi chủ tịch đoàn. Có một cậu

nói nhỏ với anh: “Ông Lành đang nói sao cậu lại cười?” Khải sợ quá, vội chối:

“Không, răng tôi nó hô đấy chứ, tôi có dám cười đâu!”.

Gần đây anh Hoàng Dũng cán bộ giảng dạy khoa Văn Đại học Sư phạm

Thành phố Hồ Chí Minh, học trò thân thiết của Nguyễn Tài Cẩn, cho biết, Tố

Hữu có lần gọi Huy Cận, bảo phải biên soạn cuốn từ điển về thơ Tố Hữu:

“Pouchkine có từ điển, sao Tố Hữu không có từ điển”. Huy Cận nhờ nhà ngôn

ngữ học Nguyễn Tài Cẩn giúp cho việc này. Cẩn từ chối không được, bèn dùng

141

mẹo, nhận nhưng không làm, tuy thỉnh thoảng lại giả vờ đến Tố Hữu “xin” ý

kiến về câu này, chữ khác của thơ ông. Bây giờ Tố Hữu chết rồi, chẳng có trang

từ điển nào cả. Anh đồ nghệ láu thật!

Năm 1986, Đại hội Đảng lần thứ VI. Tố Hữu mất hết mọi chức vụ. Tự

tột đỉnh vinh quang tụt xuống đất. Đau lắm! Từ Sơn đến chơi thấy nhà như có

tang. Ông nói với Từ Sơn: “ Chúng nó tiếc gì mà không cho mình làm cố vấn!”.

Rồi kéo Từ Sơn ra ngoài vườn như sợ có kẻ nào nghe trộm: “Có gan lên chiến

khu làm cách mạng lại không?” Đúng là cay cú đến mức điên rồ!

Tố Hữu rất ghét thi hoa hậu. Ông nói với Hoàng Điệp, Nhà xuất bản

Văn hoá thông tin: “Thi hoa hậu để khoe mông khoe đùi chứ gì! Làm như thế

những phụ nữ xấu người ta tủi. Sao không thi bắn súng?” Tất nhiên Tố Hữu rất

ghét Gooc bachốp. Chị Tố Nga, vợ Hoàng Ngọc Hiến, bắt chước giọng Huế của

ông rất vui: “Miềng có Hồ Chí Minh của miềng chứ! Thấy người ta chốp chốp,

cũng chóp chóp”.

Những năm cuối đời, ở Tố Hữu, có chuyện này cũng lạ: thường phủ

nhận những điều mình đã nói, đã làm. Trong cuốn Chân dung và đối thoại, Trần

Đăng Khoa nói đến chuyện Phù Thăng một thời bị qui chụp chính trị rất nặng.

Khoa cũng thuật lại cuộc phỏng vấn Tố Hữu về việc sáng tác bài Hoan hô chiến

thắng Điện Biên. Tố Hữu nói, không hề biết chuyện Phù Thăng, còn những điều

Trần Đăng Khoa hỏi ông về bài Chiến thắng Điện Biên là bịa. Thực ra Tố hữu

từng viét bài phê phán Phù Thăng, còn về cuộc phỏng vấn ông về bài Chiến

thắng Điện Biên thì Khoa nói với tôi: “Em có ghi băng hẳn hoi, đâu có bịa”

Lại có chuyện Nhật Hoa Khanh công bố một bài phỏng vấn Tố Hữu rất

dài. Đọc bài phỏng vấn này, thấy Tố Hữu nói ngược hẳn những điều ông nghĩ,

ông viết và ông làm trước đây đối với các nhà văn thuộc nhóm Nhân văn giai

phẩm. Ngược hẳn lại như quay 180 độ, khiến rất khó tin là có thật. Trần Đăng

Khoa cho rằng, Tố Hữu quả cũng hay phủ nhận những điều mình đã nói, đã

làm, nhưng không đến nỗi quá quắt như trong bài phỏng vấn của Nhật Hoa

Khanh. Tô Hoài thì nói, những sự kiện, những chi tiết trong bài phỏng vấn đều

có thật cả, chỉ có điều Tố Hữu nói ngược lại. Nhật Hoa Khanh thì nói, anh có

ghi âm, còn giữ băng ghi âm.

Hiện tượng này tôi vẫn thấy khó tin và cũng khó giải thích. Hay là giải

thích bằng tính cách của người Huế chăng: “Sơn bất cao, thuỷ bất thâm…”

Tố Hữu ngay khi đã mất hết chức vụ, vẫn rất hách. Trong một cuộc gặp

mặt của các nhà văn lão thành (Hữu Thỉnh hằng năm cứ vào đầu xuân lại mời

các nhà văn ở Hà Nội từ 70 tuổi trở lên đến gặp mặt để chúc Tết và mừng tuổi),

người đã đến đông, Tố Hữu đến sau, ông nhìn khẩu hiệu trên tường: “Hoan

nghênh các nhà văn lão thành cách mạng”, nói thủng thẳng: “Lão, nhưng liệu

có thành không chứ!”

Tính cách như thế nên nói chung văn nghệ sĩ không ưa. Khi ông có chức

có quyền, người ta sợ, người ta phải đến – như xếp hàng chúc Tết ông chẳng

hạn. Nay hết chức quyền rồi, người ta lảng hết. Tôi nhớ đám tang Lưu Quang

Vũ, Xuân Quỳnh ở 51 Trần Hưng Đạo, người đến viếng đông lắm. Viếng xong,

142

mọi người sang phòng bên uống nước và trò chuyện. Tôi thấy Tố Hữu ngồi một

mình. Chả có ai đến nói chuyện. Ông ngồi một lúc rồi lẳng lặng bỏ về.

Hết mọi quyền lực rồi, Tố Hữu vẫn có tật nói nhiều. Hôm báo Văn nghệ

tổ chức hội thảo về cuốn Chân dung và đối thoại của Trần Đăng Khoa, ông có

đến dự. Một mình ông nói hàng tiếng đồng hồ.

Lúc Tố Hữu đã mệt nặng, Nguyễn Khải có đến thăm. Khải nói, ông đã

mệt lắm, nói không ra tiếng, vậy mà miệng vẫn mấp máy, lắp bắp. Đúng là mắc

bệnh nói.

Hình như Gala cười có diễn một tiết mục văn nghệ về một anh chàng

mắc bệnh nói nhiều thì phải.

Ca dao có câu:

Rượu lạt uống lắm cũng say,

Người khôn nói lắm, dẫu hay cùng nhàm.

Láng Hạ, ngày 22 – 5 – 2007.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s