TÔI ĐI TÌM MỘ CỤ HỒ SĨ TẠO

 

  1. Tiểu sử Hồ Chí Minh

    Phạm Xuân Cần
    .
    Bác Hồ Thanh Chương, nguyên là đại tá, Hiệu trưởng Trường Đại học An ninh nhân dân, ở thành phố Hồ Chí Minh, quê làng Lai Nhã, xã Thanh Khê, huyện Thanh Chương. Bác là cháu nội cụ cử nhân Hồ Sĩ Tạo, đồng thời cũng là em đồng hao của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Bác cho biết, bác quê ở Thanh Chương, nên sau mới đổi tên từ Hồ Giả Chương thành Hồ Thanh Chương. Tuy nhiên, bác không sinh ra và lớn lên ở Thanh Chương, mà sinh ra và lớn lên ở Quảng Trạch, Quảng Bình, nơi cụ Hồ Sĩ Tạo trước đây đã từng làm tri phủ. (Hai con trai của bác Chương được đặt tên là Quảng và Bình). Đã hàng chục năm bác Chương không về quê, nhưng vẫn canh cánh bên lòng chuyện chưa tìm được mộ ông nội.
    Bác cho biết ông nội bác sau khi thôi chức Tri phủ Quảng Trạch, thì về quê dạy học ở Thanh Trường, Thanh Chương (Nay gọi là xã Xuân Tường). Nơi cụ mở trường dạy học về sau được gọi là Cồn Trường. Tại đây cụ gá nghĩa với một người phụ nữ, thường gọi là bà Chổi. Có lẽ do bà thường đi bán chổi kiếm ăn. Đó là người đàn bà thứ năm của bậc tài hoa và đào hoa Hồ Sĩ Tạo. Theo bác Chương, sau khi mất, cụ Hồ Sĩ Tạo không được chôn cất ngay, mà học trò của cụ còn để đến ba tháng sau mới làm lễ. (Điều này hơi khác với những gì mà ông Trường Lam Hồ Sĩ Sênh đã viết trong bài ký nổi tiếng “Chuyện ở sân sau”).
    Đầu năm 1998, sau khi nghỉ hưu, bác Hồ Thanh Chương từ thành phố HCM ra Vinh, cùng anh em chúng tôi là những học trò của bác đi tìm mộ cụ Hồ Sĩ Tạo. Đó cũng là chuyến về quê đầu tiên sau hơn hai mươi năm của bác.
    Về quê, bác Chương chỉ có một nguồn tin duy nhất do bà cô cho biết: mộ cụ Hồ Sĩ Tạo ở xã Thanh Trường, huyện Thanh Chương. Mộ có một tấm bia đá nhỏ, bị sứt góc phía bên trái. Bà còn cho biết ở xã này có một ông già họ Mai biết nơi đặt ngôi mộ.
    Xuất phát từ Vinh từ sáng sớm, việc đầu tiên của chúng tôi là tìm ông già họ Mai. Gần trưa thì mới tìm được ông cụ họ Mai. Qua một vài câu chuyện, tôi đã hơi nghi ngại, vì ông cụ đã bắt đầu lẫn. Ông kể chuyện đi chiến dịch Điện Biên phủ gặp Bác Hồ, nói chuyện đồng hương với Bác, mà quả thật tôi cũng không biết thực hư ra sao. Nhưng dù sao ông cụ cũng là điểm tựa duy nhất lúc này, vì vậy vẫn phải mời cụ lên xe ra “hiện trường”. Đến nơi ông cụ khoát tay chỉ một vùng đồi rộng lớn và nói: “ở đây”. Đây là vùng đồi chắc là đã chia cho từng hộ gia đình, nên được ngăn cách bằng những hàng rào bằng tre, hoặc những loại cây có gai. Nhìn khắp nơi tôi không hề thấy dấu hiệu gì là có mồ mả cả. Ban đầu chúng tôi còn theo ông cụ, luồn hết đồi này sang đồi khác, nhưng càng đi càng thấy mông lung, nên sau tôi bàn với bác Chương, chia ra mỗi người một khu vực để tìm. Thế nhưng, càng tìm càng mất hút, nhìn chỗ nào cũng tưởng như là có ngôi mộ, nhưng đến gần thì không thấy có dấu hiệu gì.
    Đã quá trưa, đói và mệt, lại bị gai cào, ông cụ và cả bác Chương nữa cũng không biết đang tìm ở đâu, tôi ngồi xuống nghỉ một chốc cho lại sức. Đang nghỉ, tự nhiên thấy một bé trai độ chín mười tuổi cũng đang lò dò tìm kiếm gì đó trong vườn đồi. Tôi gọi cháu đến và hỏi: “Cháu ở đây có biết chỗ nào có ngôi mộ không?”. Cháu bé trả lời ngay: “Đằng bụi tre này có cái bia chú ạ”. Nói rồi nó tất tả đi trước chỉ cho tôi đến chỗ có tấm bia. Tấm bia quay lưng vào một lùm tre, xung quanh cây cối rậm rì. Có lẽ đã hàng chục năm không người chăm sóc, ngôi mộ không còn nhô lên nữa. Nó chỉ còn là một tấm bia đá nhỏ cắm giữa cây dại, phía sau là lùm tre đã bắt đầu lấn ra cả phía tấm bia. Tôi gần như quỳ ngay xuống tấm bia khi nhìn thấy nó. Đây rồi, bị sứt góc phía bên trái! Mấy chữ Hán trên bia hãy còn rõ. Tôi bứt vội mấy lá cây xát lên bia và đọc được chữ “Hồ”, chữ “Tiểu”, dưới đó là một chữ gì đó rậm rì, có bộ thủy, cuối cùng chữ “chi mộ” thì quen rồi, biết ngay. Tôi còn đọc được chữ “Quảng”, chữ “Phủ” phía bên phải. Sao lại là “Hồ Tiểu” nhỉ, ông là Hồ Sĩ Tạo kia mà, chữ Sĩ và chữ Tạo thì tôi biết. Nghĩ thế, nhưng tôi vẫn tin chắc là mộ cụ Hồ Sĩ Tạo. Tôi khum tay gọi bác Chương vang động cả vùng đồi.
    Mãi hàng chục phút sau bác Chương mới bươn đến, mặt mũi đỏ bừng, mồ hôi, mồ kê nhễ nhại. Ông quỳ ngay xuống trước tấm bia. “Đây thật rồi! Đây thật rồi!”. Tôi hỏi: “Nhưng tại sao lại là Hồ Tiểu hả bác?”. Bác Chương nói ngay: “Hồ Tiểu Khê! Hồ Tiểu Khê! Tiểu Khê là tên hiệu của ông nội mình. Tiểu Khê nghĩa là dòng suối nhỏ”. Thế thì chính xác rồi. Tôi vào một gia đình có nhà gần đó mượn một con dao. Hai thầy trò cùng chặt cành, phát quang, dọn sạch khu vực quanh tấm bia. Sau đó, đem hương mang theo, thắp hương cắm lên mộ. Hai thầy trò đứng nghiêm trước mộ phần của cụ, nghẹn ngào, không nói được lời nào. Bác Chương chắc xúc động lắm. Nguyện ước cả đời đã đạt được. Để chắc chắn hơn, tôi cẩn thận chép lại từng chữ Hán trên tấm bia. Tối hôm đó cha tôi đã dịch nội dung tấm bia. Dòng trên cùng là chữ Lai Nhã thôn. Bên trái là “mậu thìn giải nguyên’, bên phải là “Quảng Trạch tri phủ”, chính giữa là “Hồ Tiểu Khê chi mộ”. Có nghĩa: Mộ của Hồ Tiếu Khê, người làng Lai Nhã, đậu giải nguyên năm Mậu thìn, làm tri phủ Quảng Trạch.
    Xong nghi lễ, hai thầy trò vào gia đình có khu vườn đồi. Bác Chương cám ơn gia đình, gửi lại cho họ một ít tiền, nhờ chăm sóc, hương khói cho phần mộ trong lúc chưa tôn tạo lại được. Ông chủ nhà cho biết cách đó chừng tám chín, năm, tức là khoảng năm 1989, 1990 gì đó cũng đã có một vài người, nói là cán bộ văn hóa về tìm ngôi mộ. Gia đình cũng biết ngôi mộ này chắc là của một nhân vật quan trọng, nên cũng có ý thức giữ gìn.
    Có một chút ân hận nhỏ, là mải lo chuyện, tôi quên mất đứa trẻ đã chỉ cho mình ngôi mộ, khi hỏi ông chủ nhà thì ông cũng lắc đầu “không biết đứa mô”. Ông già họ Mai cũng vậy. Xong việc, tôi lại bươn khắp vùng đồi, vừa gọi vừa tìm ông, nhưng mãi vẫn không thấy. Tin chắc không có gì bất trắc, thầy trò chúng tôi đành lên xe, không quên ghé qua nhà ông gửi cho gia đình một ít tiền, thay lời cám ơn.
    Chiều hôm đó bác Chương mới về đến Thanh Khê, sau hơn hai mươi năm. Họ hàng đón ông mừng mừng tủi tủi. Tiếp chuyện với chúng tôi là ông Hồ Sĩ Dũng, gọi bác Chương bằng bác. Ông Dũng người trông khắc khổ, nhưng tỏ ra khá hiểu biết về lịch sử và văn hóa. Sau khi nghe kể lại quá trình tìm mộ, ông tỏ ra tiếc rẻ. “Nếu bác về quê trước thì chắc không vất vả như vậy, vì ở quê vẫn có một số người biết ngôi mộ này”. Ông cũng kể nhiều giai thoại về cụ Hồ Sĩ Tạo. Ông cho biết, cụ Hồ Sĩ Tạo có một tập thơ, tựa là “Tiểu Khê thi tập”, gồm trên dưới một trăm bài thơ. Những năm 60, 70 có đoàn sưu tầm văn hóa dân gian của tỉnh về đã mượn tập thơ đó, nay chắc Phó giáo sư Ninh Viết Giao đang giữ. Ngay hôm sau về Vinh, tôi đã nhờ người đưa bác Chương lên gặp PGS Ninh Viết Giao. Hai người nói chuyện rất tâm đắc về Hồ Sĩ Tạo. Nhưng về tập thơ, ông Giao cho biết ông cũng nghe nói vậy, chứ chưa hề nhìn thấy nó. Nếu có thì chắc chắn ông đã tìm cách giới thiệu rồi. Gần đây nhà nghiên cứu Trần Minh Siêu, tác giả nhiều công trình nghiên cứu về gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nói cụ Hồ Sỹ Tạo có một tập nhật ký tìm họ, nói về việc tìm lai lịch họ Hồ, không biết nay thất lạc ở đâu.
    Sau chuyến đi tìm mộ, bác Chương còn về nhiều lần nữa. Ngôi mộ đã được sửa sang lại khang trang hơn và đã được con cháu lui tới chăm sóc. Năm 2010, ngôi mộ đã được đầu tư tôn tạo lại hết sức khang trang. Hôm trở lại đây dự lễ khánh thành ngôi mộ, tôi hầu như không nhận ra nơi mười hai năm về trước mình đã có một chuyến đi vất vả mà đầy ý nghĩa. Buổi lễ khánh thành được tổ chức thật trọng thể và nghiêm trang. Ban liên lạc họ Hồ toàn quốc, cùng với con cháu khắp trong Nam ngoài Bắc về dự. Trong các đoàn lên dâng hương, tôi nghe giới thiệu cả đoàn đại biểu họ Hà. Tôi được bác Hồ Thanh Chương trịnh trọng giới thiệu là “một ân nhân của họ Hồ ta”. Tự nhiên nước mắt cứ thế tuôn trào. Hôm đó, bác Chương cũng thay mặt con cháu nói mấy câu cám ơn. Một vị được giới thiệu là trưởng ban sử của dòng họ lên nói vanh vách về lịch sử họ Hồ và Hồ Sĩ Tạo. Ông không ngần ngại trình bày hết sức rõ ràng, thuyết phục về những gì gọi là giai thoại, là thâm cung bí sử quanh nhân vật Hồ Sĩ Tạo.
    Lại nhớ, buổi chiều của năm 1998 ở Thanh Khê. Khi bước vào nhà thờ họ thắp hương, tôi, bác Chương và mấy người cùng đi sửng sốt trước bức phả hệ được vẽ trên tấm vải trắng, treo trang trọng giữa nhà thờ. Trên đó, dưới cái tên Hồ Sĩ Tạo có một mũi tên chỉ xuống. Dưới mũi tên là những cái tên quen thuộc. Bác Chương nghiêm sắc mặt: “Không được! Không được!”. “Chi mà không được bác?”, ông Hồ Sỹ Dũng nói. “Không được là không đươc. Đã rõ ràng chi mô!”. “Bác hay thật. Có chi nữa mà không rõ ràng?” “Không được”. Bất giác, tôi cũng nói theo bác Chương: “Không được. Không được…”



    Ảnh: 1- Trước mộ cụ Hồ Sĩ Tạo khi vừa tìm thấy ngày 12/4/1998; 2- Bia mộ cụ Hồ Sĩ Tạo; 3- Mộ cụ Hồ Sĩ Tạo hiện nay.

    Câu chuyện về cụ thân sinh ra
    Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Phó bảng
    Nguyễn Sinh Sắc hay Nguyễn Sinh Huy

    Trần Quốc Vượng
    (Trích từ cuốn Trong Cõi, xuất bản tại Mỹ. Chương 15. Lời truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh của một số nhà trí thức Nho gia – Kinh nghiệm điền dã)
    Tôi đã mở (đầu) bài kinh nghiệm điền dã Folklore này của mình bằng câu chuyện một vị tiến sĩ vô danh, nghĩa là không còn tên tuổi, để dẫn dắt đến câu chuyện của những người có tên tuổi.
    Đến đây tôi sẽ khép (lại) bài kể lể khá dài dòng của mình bằng câu chuyện một người tuy có tên tuổi nhưng không lấy gì làm nổi tiếng lắm, hay đúng hơn đã trở nên có tên tuổi nhờ gắn bó máu thịt với một người tên tuổi (nhưng từ đầu đến cuối câu chuyện của tôi đều nói về các nhà Nho, các vị thái học sinh, tiến sĩ, bảng nhãn hay là phó bảng cả).
    Đó là câu chuyện về cụ thân sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc hay Nguyễn Sinh Huy.
    Phó bảng là một học vị tiến sĩ, chỉ mới xuất hiện ở Việt Nam từ đời vua Minh Mạng nhà Nguyễn (1830-31).
    Trong một lá đơn bằng tiếng Pháp gửi bộ Thuộc địa Pháp, Nguyễn Tất Thành (sau là Hồ Chí Minh) đã khéo dịch tên học vị của phụ thân mình là sous docteur (1), như ngày nay ta gọi là phó tiến sĩ.
    Quê hương cụ, là làng Kim Liên, tên nôm là làng Sen, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Nhưng đậu phó bảng rồi cụ đã làm thừa biện bộ Lễ ở Huế rồi tri huyện Bình Khê (Bình Định). Rồi bỏ quan (hay bị cách chức quan) cụ phiêu dạt vô Sài Gòn, ngồi bắt mạch kê đơn ở tiệm thuốc bắc Hoa kiều, để có chút cơm rượu… Lại phiêu lãng nữa, tới miền Tây Nam bộ, và cuối cùng mất ở Cao Lãnh (Sa Đéc nay thuộc tỉnh Đồng Tháp). Mộ cụ phó bảng được xây lại cuối năm 1954 sau sự kiện Genève tạm thời chia đôi đất nước Việt Nam.
    Người ta làm thế là vì cụ Hồ. Cũng như mộ bà Hoàng Thị Loan vợ cụ và là thân mẫu Hồ Chí Minh mới được dời xây lại vài năm nay ở Nam Đàn, Nghệ An. Người ta làm thế cũng là vì cụ Hồ. Hai ngôi mộ này, cũng như bản thân Lăng chủ tịch Hồ Chí Minh giữa lòng Ba Đình, Hà Nội đều hiện hữu ngoài ý thức chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông Hồ vốn được xem là người giản dị, khiêm nhường…
    Cũng đã có dăm cuốn sách nói về gia thế cụ Hồ Chí Minh. Nhưng câu chuyện tôi sắp kể dưới đây thì chưa từng ai viết.
    Chỉ là lời truyền miệng dân gian, ở Kim Liên, Nam Đàn, ở một số người gốc Nghệ hiện sống tại Hà Nội và nhiều nơi khác trên mảnh đất Việt Nam. Nếu trong Folklore, có hiện tượng mà các nhà nghiên cứu gọi là lan truyền thì từ lâu câu chuyện này cũng đã lan truyền từ làng Kim Liên ra khắp huyện Nam Đàn rồi khắp tỉnh Nghệ Anh rồi rộng ra hơn nữa… Nhưng phạm vi lan truyền và số người biết câu chuyện này phải nói là hạn hẹp. Vì người ta Sợ.
    Sợ động chạm đến cụ Hồ. Một cái sợ vô nghĩa nhưng người ta cứ gán cho nó cái ý nghĩa chính trị giả tạo. Vì như bà Trịnh Khắc Niệm viết trong cuốn tiểu truyện bằng tiếng Anh “Life and Death in Shanghai” (2), đã được phiên dịch ra tiếng Việt: Ở xã hội xã hội chủ nghĩa, cuộc đời của các lãnh tụ cộng sản được coi là “bí mật quốc gia”.
    Nhưng đây không phải là chuyện cụ Hồ, tuy cũng có dính dáng đến cụ Hồ. Mà vì đây là chuyện cụ thân sinh ra cụ Hồ. Cụ Nguyễn Sinh Huy. Mà cũng là truyền miệng thôi, nghĩa là thuộc phạm trù giai thoại, folklore, chứ không thuộc phạm trù lịch sử, như tôi đã nói từ đầu bài này.
    Người dân Kim Liên đồn rằng Nguyễn Sinh Huy không phải là thuộc dòng máu mủ của họ Nguyễn Sinh làng này. Mà là con của một người khác: ông đồ nho, cử nhân Hồ Sĩ Tạo.
    Cử nhân Hồ Sĩ Tạo thuộc dòng họ Hồ nổi tiếng ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An (đây là quê gốc của Hồ Quý Ly, nhân vật lịch sử cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, đây cũng là quê gốc của anh em Tây Sơn thế kỷ XVIII, vốn họ Hồ ở xứ Nghệ), đây cũng là quê hương Hoàng Văn Hoan, người đồng chí thân cận một thời của cụ Hồ Chí Minh, được cụ Hồ giao phụ trách công tác đối ngoại của Đảng Cộng Sản Việt Nam và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thời kháng chiến chống Pháp và là Đại sứ Việt Nam đầu tiên ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, sống lưu vong ở Trung Hoa, có viết một tài liệu lịch sử làng Quỳnh Đôi quê ông, bà vợ nhà văn lớn Đặng Thái Mai, người một thời làm Bộ trưởng Giáo Dục trong chính phủ của cụ Hồ 45-46 rồi làm Viện trưởng viện Văn Học, là Hồ Thị Loan, cũng thuộc dòng họ Hồ này ở làng Quỳnh Đôi). Khoảng đầu những năm 60 của thế kỷ trước (thế kỷ XIX) cử nhân Hồ Sĩ Tạo có thời gian ngồi dạy học ở một nhà họ Hà, người làng Sài, cùng một xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, với làng Sen (Kim Liên). Đó là một nhà nghệ nhân dân gian, trong nhà có phường hát ả đào.
    Nhà họ Hà có cô con gái tên là Hà Thị Hy, tài hoa, nhan sắc, đàn ngọt, hát hay, múa khéo, đặc biệt là múa đèn (đội đèn trên đầu, để đèn trên hai cánh tay, vừa hát vừa múa mà dầu trong đĩa không sánh ra ngoài) nên người làng thường gọi là cô Đèn. Người ta thường bảo: má hồng thì mệnh bạc. Như Đặng Trần Côn viết mở đầu khúc ngâm chinh phụ: “Hồng nhan đa truân” (Gái má hồng nhiều nỗi truân chuyên). Hay như Nguyễn Du than thở dùm người đẹp tài hoa trong truyện Kiều: “Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”… “Rằng hồng nhan tự thuở xưa, Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu”…
    Vả ở thời ấy, dưới chế độ quân chủ nho giáo lấy tứ dân (Sĩ Nông Công Thương) làm gốc, người ta vẫn xem thường nghề ca xướng và con nhà ca xướng “Xướng ca vô loài”.
    Cô Đèn, Hà Thị Hy tài hoa nhan sắc là thế mà rồi ba mươi tuổi vẫn chưa lấy được chồng. Mà trong nhà thì lại luôn có bậc văn nhân: ông cử Hồ Sĩ Tạo. “Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén” là lẽ thường theo tâm lý dân gian, huống chi là giữa văn nhân – tài tử – giai nhân: “Trai tài Gái sắc” mà! Và cô Hà Thị Hy bỗng dưng “không chồng mà chửa”. Mà ông cử Tạo thì đã có vợ có con rồi! Lệ làng ngày trước phạt vạ rất nặng nề, sỉ nhục hạng gái “chửa hoang” hạng “gian phu dâm phụ”. Để tránh nỗi nhục cho con gái mình và cho cả ông cử Tạo đang làm “thầy đồ” được hết sức kính trọng trong nhà mình, nhà họ Hà phải bù đầu suy tính…
    Lúc bấy giờ ở làng Sen cùng xã có ông Nguyễn Sinh Nhậm, dân cày, tuổi cao mà góa vợ (bà vợ trước đã có một con trai là Nguyễn Sinh Thuyết, và người con trai này cũng đã có vợ).
    Nhà họ Hà bèn cho gọi ông Nguyễn Sinh Nhậm đến điều đình, “cho không” cô Hy làm vợ kế ông này, như một người con gái xướng ca, quá lứa, lỡ thì, lấy ông già góa vợ, mong ém nhém việc cô gái đã “to bụng”.
    Công việc rồi cũng xong. Cô Hy ôm bụng về nhà chồng, có cưới có cheo cẩn thận. Việc phạt vạ của làng không thể xảy ra. Nhưng cô gái tài hoa nhan sắc thì bao đêm khóc thầm vì bẽ bàng, hờn duyên tủi phận. Và ông lão nông dốt nát tuy được không cô gái đẹp nhưng cũng buồn vì đâu có đẹp đôi, lại cắn răng chịu đựng cái tiếng ăn “của thừa”, “người ăn ốc (ông cử Tạo), kẻ đổ vỏ (cụ lão nông Nhậm)”. “Miệng tiếng thế gian xì xầm”, ai mà bịt miệng nổi dân làng. Mà trước hết là lời “nói ra nói vào”, lời chì chiết của nàng dâu vợ anh Thuyết, vốn nổi tiếng ngoa ngoắt, lắm điều. Ông Nhậm đành cho con trai và vợ anh ta ra ở riêng, và mình ở riêng với bà vợ kế.
    Chỉ ít tháng sau, bà vợ kế này đã sinh nở một mụn con trai, được ông đặt tên là Nguyễn Sinh Sắc, lấy họ ông, mặc dù ông biết rõ hơn ai hết đó không phải là con ông, con nhà họ Nguyễn Sinh này. Nàng dâu ông càng “tiếng bấc tiếng chì” hơn trước vì ngoài việc bố chồng “rước của tội của nợ”, “lấy đĩ làm vợ” thì nay còn nỗi lo: Người con trai này – được ông nhận làm con – lớn lên sẽ được quyền chia xẻ cái gia tài vốn cũng chẳng nhiều nhặn gì của một gia đình nông phu thôn dã. Việc ấy xảy ra vào năm Quý Hợi, đời vua Tự Đức thứ 16 (1863).
    Vì trọng tuổi, lại vì lo phiền, vài năm sau cụ Nhậm qua đời và cũng chỉ ít lâu sau đó, bà Hy cũng mất. Nguyễn Sinh Sắc trở thành đứa trẻ mồ côi. Lên 4, về ở với người anh gọi là “cùng cha khác mẹ” mà thật ra là “khác cả cha lẫn mẹ”, cùng với bà chị dâu ngoa ngoắt, khó tính, lúc nào cũng chỉ muốn tống cổ cái thằng “em hờ” của chồng đi cho “rảnh nợ”.
    Không cần nói, ta cũng hiểu Nguyễn Sinh Sắc khổ tâm về tinh thần, khổ cực về vật chất như thế nào trong cái cảnh nhà Nguyễn Sinh như vậy. Ta cảm thấy vô cùng thương xót một đứa trẻ mồ côi sớm chịu cảnh ngang trái của cuộc đời. Bên ngoại thì ông bà đều đã mất, họ hàng chẳng còn ai chịu cưu mang đứa trẻ có số kiếp hẩm hiu này.
    May có ông Tú đồ nho Hoàng Xuân Đường, người làng Chùa (Hoàng Trù) gần đó, xót thương đứa trẻ, dù sao cũng là hòn máu rơi của một nhà nho khác, lại có vẻ sáng dạ, nên đã đón về làm con nuôi, cho ăn học. Và đến khi Nguyễn Sinh Sắc 18 tuổi, ông bà đồ họ Hoàng lại gả cho cô con gái đầu lòng, Hoàng Thị Loan, mới 13 tuổi đầu, cho làm vợ, lại làm cho căn nhà tranh ba gian ở ngay làng Chùa, để vợ chồng Nguyễn Sinh Sắc ăn ở riêng. Ta dễ hiểu vì sao Nguyễn Sinh Sắc gắn bó với họ hàng làng quê bên vợ, làng Chùa, hơn là với làng Sen “quê nội”, “quê cha hờ”. Con cái ông, từ người con gái đầu Nguyễn Thị Thanh, qua người con trai đầu Nguyễn Sinh Khiêm (tục gọi ông Cả Đạt) đến người con trai thứ Nguyễn Sinh Côn (hay Nguyễn Tất Thành, sau này là Nguyễn Ái Quốc rồi Hồ Chí Minh) đều được sinh ra và bước đầu lớn lên ở làng Chùa bên quê mẹ hay là quê ngoại. Khi ông Tú Hoàng (Hoàng Xuân Đường) mất, vợ chồng con cái Nguyễn Sinh Sắc lại về ăn ở chung với bà đồ Hoàng. Các cháu đều quấn quít bên bà ngoại.
    Qua giỗ đầu cụ tú Hoàng, Nguyễn Sinh Sắc đi thi Hương khoa Giáp Ngọ và đậu cử nhân (1894). Ông được nhận ruộng học điền, ruộng công của làng Chùa chia cho những người có học (nhằm khuyến khích việc học) để học thêm, chứ không phải nhận ruộng học của làng Sen. Khoa thi Hội Ất Mùi (1895), ông thi trượt.
    Nhờ sự vận động gửi gắm của ông Hồ Sĩ Tạo, người cha thực của Nguyễn Sinh Sắc, với các quan lại đồng liêu quen biết ở triều đình Huế, Nguyễn Sinh Sắc được coi như ấm sinh, để được nhận vào học Quốc Tử Giám ở kinh đô. (Ai cũng biết: Để được nhận vào học Quốc Tử Giám và làm giám sinh phải là con cháu của những gia đình có thế lực gọi là “danh gia tử đệ”. Nếu không có sự can thiệp của ông Hồ Sĩ Tạo là bậc khoa bảng cao quan thì làm sao Nguyễn Sinh Sắc được nhận? Thế là dù sao Hồ Sĩ Tạo vẫn còn có một “cử chỉ đẹp” với đứa con mà mình không dám nhận). Nguyễn Sinh Sắc, đổi tên là Nguyễn Sinh Huy, đem vợ và hai con trai vào Huế và đi học Quốc Tử Giám. Khoa thi Hội Mậu Tuất (1898) ông lại trượt.
    Ngày 22 tháng chạp năm Canh Tý (10-2-1901), bà Hoàng Thị Loan ốm mất ở kinh đô Huế, sau khi sinh đứa con trai út (đứa con trai này ít ngày sau cũng chết). Nguyễn Sinh Côn (Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh ngày sau) trở thành con trai út.
    Nguyễn Sinh Huy đem hai con trai về làng Chùa gửi mẹ vợ nuôi nấng chăm sóc dùm, rồi trở vào kinh thi Hội. Khoa Tân Sửu (1901) này, ông đậu phó bảng và được “vinh quy bái tổ” về làng. Theo thể thức triều đình, lễ vinh quy này phải diễn ra ở quê nội, dù là quê nội danh nghĩa, tức là làng Sen – Kim Liên. Hội đồng hương lý và dân xã dựng nhà tranh 5 gian (chứ không phải nhà ngói) trên một khoảnh đất vườn làng Sen, để đón quan Phó bảng tân khoa Nguyễn Sinh Huy về làng.
    Thế là buộc lòng ông phải về “quê nội”. Ông cũng đón hai con trai về ở cùng ông. Lần đầu tiên Nguyễn Sinh Côn (Hồ Chí Minh ngày sau), về ở quê nội, nhưng thân ông, lòng ông vẫn hướng về quê ngoại là cái gì “đích thực” và gắn bó với tuổi thơ ông. Ông Phó bảng có đến thăm cụ Hồ Sĩ Tạo.
    Nhưng gia đình ông phó bảng cùng hai con trai cũng không ở lâu tại Kim Liên. Chưa đầy 3 năm! Sau khi mẹ vợ mất, ông vào kinh đô nhận chức quan (1904) ở bộ Lễ, đem theo hai con trai vào Huế học. Năm 1907 ông bị đổi đi Tri huyện Bình Khê… Rồi sau khi bỏ quan (hay mất quan, khoảng 1910), ông phiêu bạt vô Sài Gòn rồi lục tỉnh Nam Kỳ. Không bao giờ ông về làng Sen trở lại nữa…
    *
    Ở làng Sen sau này, chỉ có bà Thanh và ông Cả Đạt (Khiêm), cả hai đều không lập gia đình riêng.
    Người ta bảo lúc sau khi cụ Hồ Sĩ Tạo đã qua đời, năm nào bà Thanh cũng qua Quỳnh Đôi góp giỗ cụ Hồ Sĩ Tạo. Thế nghĩa là cái “bí mật” về cội nguồn của cụ Phó bảng Huy, trong số các con cụ, ít nhất có bà con gái đầu biết. Người ta bảo: ông Cả Đạt cũng biết, tuy không bao giờ ông sang Quỳnh Đôi nhận họ.
    Còn Nguyễn Sinh Côn – Nguyễn Tất Thành có biết không? Từ khoảng 11 đến 14 tuổi, ông ở làng Sen, có nhẽ nào không ai nói cho ông biết? Hay là trước đó nữa, khi ông ở làng Chùa quê ngoại gần gặn với làng Sen! Hay là sau đó nữa chả nhẽ không khi nào cụ Phó bảng hay bà Thanh hay ông Đạt lại không kể với ông về “bí mật” của gốc tích phụ thân mình?
    Không có chứng cớ gì về việc ông Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc, biết hay không biết chuyện này… Sau này khi hoạt động cách mạng, ông còn mang nhiều tên khác nữa…
    Nhưng đến đầu thập kỷ 40 của thế kỷ này, thì người ta thấy ông mang tên Hồ Chí Minh.
    Sau Cách mạng tháng Tám 1945, khi tên tuổi Hồ Chí Minh trở thành công khai thì cũng bắt đầu từ đó dân gian Việt Nam, từ trí thức đến người dân quê, lại âm thầm bàn tán: Vì sao Nguyễn Ái Quốc lại đổi tên là Hồ Chí Minh? Và tên này cụ giữ mãi cho tới khi “về với Các Mác, Lê Nin” năm 1969.
    Cuộc đời thực của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh còn quá nhiều dấu hỏi chứ phải đâu riêng gì một cái tên! Và biết làm sao được khi cụ Hồ, tôi nói lại một lần nữa theo cảm thức của người Ấn Độ, đã trở thành một huyền thoại. Huyền thoại Hồ Chí Minh được hình thành trong vô thức dân gian mà Carl Gustav Jung gọi là vô thức tập thể. Nhưng nó cũng có phần được hình thành một cách hữu thức, bởi một số cán bộ gần gụi cụ Hồ. Nghĩa là một phần cuộc đời cụ Hồ đã được huyền thoại hóa.
    Ngay sau cách mạng tháng Tám, người ta còn in cả một cuốn sách (mỏng thôi) về sấm Trạng Trình có những câu vận vào cụ Hồ và sự nghiệp cách mạng tháng Tám. Và sấm Trạng Trình vẫn được vận vào cụ Hồ còn lâu về sau nữa, ở miền Nam Việt Nam và hiện nay ở một số người Việt lưu vong, dù là với hậu ý không ưa gì cụ Hồ… Nhưng đó lại không phải là chủ đề của bài viết này.
    Trở lại với cái tên Hồ Chí Minh, lời truyền miệng dân gian bảo rằng: Nguyễn Ái Quốc sau cùng đã lấy lại họ Hồ vì cụ biết ông nội đích thực của mình là cụ Hồ Sĩ Tạo, chứ không phải cụ Nguyễn Sinh Nhậm.
    Và dân làng Sen cũng bảo: Thì cứ xem, lần đầu tiên về thăm quê hương, sau cách mạng, sau mấy chục năm xa quê (15-6-1957), từ thị xã Vinh – tỉnh lỵ Nghệ An, cụ Hồ đã về làng Chùa trước, rồi sau mới sang làng Sen “quê nội” (3)!
    Riêng tôi nghĩ, thì cũng phải thôi. Vì như ở trên ta đã thấy, cả một thời thơ ấu của cụ Hồ là gắn bó với quê ngoại làng Chùa, nơi cụ sinh ra và bước đầu lớn lên. Chứ đâu phải làng Sen, là nơi cụ chỉ ở có vài năm, lại là khi đã bắt đầu khôn lớn?
    *
    Tôi không muốn có bất cứ một kết luận “khoa học” gì về bài viết này. Vì nó không phải là một luận văn khoa học. Đây chỉ là việc ghi lại một số lời truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh hay là cái khổ tâm hay là cái “mặc cảm” của một số nhà trí thức Nho gia từ đầu thế kỷ XIV (Trương Hán Siêu, Chu Văn An) đến đầu thế kỷ XX (Nguyễn Sinh Huy) đối với làng quê (4).
    Còn viết lách, thì bao giờ chẳng là chuyện:
    “Thư bất tận ngôn, Ngôn bất tận ý”
    (Viết không (bao giờ) hết lời nói,
    Lời nói không (bao giờ) hết ý!)
    Tháng 1-1991
    (1) Xem phụ bản bức thư này công bố trong: G. Boudarel, La Bureaucratie au Vietnam, par L’Harmattan, 1983.
    Nguyễn Thế Anh: Du rêve mandarinal au chemin de la Révolution, Ho Chi Minh et l’école coloniale, La Voie nouvelle (Đường Mới) N1, Paris 6/1983, p. 13-14.
    Một chút về tiểu sử Nguyễn Sinh Sắc và thời thơ ấu của Hồ Chí Minh, xin xem Sơn Tùng, Búp Sen Xanh (in lần thứ 2, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 1984). Cuốn sách này tuy là “tiểu thuyết”, khi mới in lần thứ nhất, đã bị cán bộ Viện bản tàng Hồ Chí Minh phê bình trên báo Nhân Dân là có những chi tiết không đúng sự thực lịch sử (chủ yếu là mối tình đầu của cụ Hồ).

    Reply With Quote Reply With Quote


  2. 13-03-2012 12:14 AM #22

    alamit

    alamit is offline Thành Viên

    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    989

    Tiểu sử thật về Hồ Chí Minh

    Tiểu sử thật về Hồ Chí Minh
    Câu chuyện về cụ thân sinh ra
    Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Phó bảng
    Nguyễn Sinh Sắc hay Nguyễn Sinh Huy
    Nấm mộ ông Thầy Quảng

    BS Trần Ngươn Phiêu
    Trong số báo Xuân Ất Dậu 2005 của Thế Kỷ 21, tác giả Trần Đông Phong có bài “…Hồ Chí Minh và Ngô Đình Diệm”. Trên hai trang 95 – 96, tác giả tường thuật về việc Bộ Trưởng Bộ Kiến Thiết, Hoàng Hùng, năm 1956, đã nhận được chỉ thị của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, cho sửa sang “ đàng hoàng tươm tất” một n ấm mộ vô chủ ở vùng Cái Tôm, Cao Lãnh. Người phụ trách việc trùng tu đã được các bô lão địa phương cho biết, đó là ngôi mộ của Phó bảng Huy, được chôn cất từ năm 1929. Thật ra, Bộ trưởng Hoàng Hùng không phải là người đầu tiên đã đứng ra sửa sang lại ngôi mộ này. Dân địa phương cũng đã biết từ lâu gốc tích của người nằm dưới mộ, được gọi là ông Thầy Quảng. Thân hào nhân sĩ thông hiểu sự việc gọi: đây là mộ thân sinh ông Nguyễn Ái Quốc. Người viết bài này vốn thuộc vùng Cao Lãnh, muốn nhân cơ hội, góp thêm vài chi tiết liên quan đến nấm mộ mà một số người đã tưởng là vô chủ. mong rằng đây là một vài dữ kiện để làm tài liệu cho các nhà biên khảo trong tương lai.
    Cao Lãnh thường được người miền Nam biết là một quận thuộc tỉnh Sa Đéc. Tỉnh Sa Đéc, nay là tỉnh Đồng Tháp vốn chỉ là một tỉnh nhỏ, nằm bên sông Tiền Giang. Tổng Thống Ngô Đình Diệm, vốn một quan chức miền Trung, là người đầu tiên đã có nhiều quyết định phân chia lại vị trí các tỉnh miền Nam theo các kinh nghiệm hành chánh của ông, khiến những người cố cựu vùng sông C?u đã lắm khi bàng hoàng kinh ngạc. Cao Lãnh, một địa danh có tiếng hào hùng cách mạng chống Pháp, nhờ vị trí ven biên Đồng Tháp Mười rộng lớn bát ngát. Dưới thời Đệ nhất Cộng hòa, quận được tách ra thành tỉnh Kiến Phong. Tỉnh Sa Đéc nhỏ bé lại bị chia năm xẻ bảy, các quận khi được sát nhập vào tỉnh Vĩnh Long, khi được hoàn trở lại, lận đận một thời! Vào thời khoảng các thập niên 1920 – 1940, thực dân Pháp đã lưu đày, đưa một số các nhà cách mạng từ Bắc hoặc Trung vào các tỉnh miền Nam. Cụ Dương Bá Trạc bị an trí ở An Giang, Phan Châu Trinh ở Định Tường…Cụ cử Vũ Hoành làm Thủ quỹ cho Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục nên bị Pháp bắt và lưu đày ở tỉnh lỵ Sa Đéc. Dân Sa Đéc đều biết tiếng ông và thường gọi tắt là ông Cử Hoành. Ông sống thanh bạch, làm nghề hốt thuốc Bắc và cư ngụ tại đường Rue des Pêcheurs, bây giờ là đường Nguyễn Trãi. Nhà ông thường có nhiều khách ra vào, phần lớn là những người đến xem mạch xin toa nhưng cũng là nơi nhiều nhà hoạt động cách mạng đến liên lạc. Gần cổng nhà ông, thực dân Pháp thành lập một quán nước nhỏ, cốt để nhân viên mật thám hằng ngày có nơi theo dõi các hoạt động của ông. Ông bác của người viết bài này là Trần Hàm Trung vốn người Hà Tỉnh vì tham gia Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, cũng bị Pháp lưu đày ở Nha Mân, Sa Đéc. Ông nội tôi, thuộc hạ của Phan Đình Phùng, sau khi phong trào bị tan rã, trở về nhà thì thôn làng đã bị đốt phá . Ông quyết chí rời bỏ quê, đi bộ vào Nam tìm gặp lại người anh. Ôâng đã gầy dựng cơ nghiệp, vừa dạy học vừa làm ruộng vườn ở xã Mỹ Long, trong quận Cao Lãnh. Vào thập niên 1920 – 1930, ở Mỹ Long, cấp Tiểu học chỉ có trường dạy đến lớp Ba. Muốn tiếp tục học, phải qua Sa Đéc. Các chú của tôi vì vậy đều được ông nội tôi gởi tá túc ở nhà ông Cử Hoành để đi học. Các cụ cách mạng bị lưu đày ở miền Nam đều rất khắng khít với nhau, coi nhau như ruột thịt. Có một năm, gần ngày Tết, ông nội tôi sai hai chú tôi đem trái cây, cam quít của vườn nhà và gạo, nếp, qua Sa Đéc để tặng ông Cử Hoành là nơi hai chú đã có thời được lưu trú và dạy dỗ. Được cho tháp tùng ra tỉnh lỵ, thằng bé nhà quê là tôi lúc ấy mới có được dịp, lần đầu tiên, biết bánh chưng, thịt đông, chả cá… là những món chưa từng được nếm qua. Vì thích khẩu nên tôi ăn một mạch đến gần ba chén cơm. Chú thứ Sáu của tôi thúc cùi tay nhắc: “ Ba chén thôi nghe không?”. Hai chú tôi đã từng sống trong gia đình ông Cử nên biết thông lệ ở gia đình này. Vì nhà luôn luôn tiếp nhiều khách mà khả năng tài chánh lại hạn hẹp nên nhà bếp thường hay hỏi trước mỗi thực khách : trong các buổi ăn, thường dùng bao nhiêu chén cơm để lo liệu nấu cho vừa đủ! Ông Cử là một nhà nho, có nếp sống rất chững chạc. Ngồi vào bàn ăn của ông, lúc nào cũng phải ăn mặc tươm tất. Riêng ông có cái thế ngồi đặc biệt: lúc nào cũng giữ lưng thẳng đứng, ngay ngắn. Ông thường nói: “Tôi không luồn cúi ai nên lưng lúc nào cũng thẳng”. Sau buổi ăn ngày hôm đó, ông ra lịnh cho hai chú tôi: “Chúng mày trước khi về nhà, phải nhớ ghé giẫy mả Cụ Phó bảng như mọi năm. Tập thêm cho thằng cháu nhỏ này phụ việc. Mà phải làm cho tươm tất. Nếu làm cho lấy có. không đàng hoàng, tao sẽ “róc xương” chúng mày”. Đó là lần đầu tiên tôi dược biết về nấm mộ đơn sơ gần Miễu Trời Sanh, cạnh nhiều ngôi mộ hoang khác, ở xã Hòa An, Cao Lãnh. Hai chú tôi cho tôi biết đó là mộ ông thân phụ của nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc. Trên đường lưu lạc vào Nam sau khi mất chức ở triều đình Huế, ông đã được ông Cử Hoành rước về Sa Đéc, tìm cho nơi tá túc để hành nghề thuốc. Năm 1929, ông qua đời và được chôn cất tại đây. Hằng năm, nếu ông Cử Hoành không đánh tiếng, ông nội tôi vẫn bắt các chú tôi làm công việc chỉnh trang lại mả này mà dân chúng địa phương gọi là mả ông Thầy Quảng. Các chú tôi cũng lo phát cỏ luôn cho các mả hoang khác, thắp hương cho mỗi mả trước khi về lại nhà. Năm1945, khi khởi đầu cuộc Kháng Chiến Nam Bộ, Tướng Nguyễn Hòa Hiệp đã rút quân Đệ Tam Sư Đoàn về trú đóng Cao Lãnh. Được ông Cử Hoành chỉ dẫn, Nguyễn Hòa Hiệp thuộc Việt Nam Quốc Dân Đảng, đã đưa các nhân viên bộ tham mưu đến chào kính, viếng mộ thân phụ Hồ Chí Minh. Ông Cử Hoành đã cùng gia đình rời thị xã Sa Đéc, tản cư trên một chiếc ghe và đã qua đời năm 1946 ở Rạch Tân Trường thuộc Xã Mỹ Hội, Cao Lãnh. Sau này, do sự tình cờ và cũng do liên hệ gia đình bên vợ của tôi nên tôi được biết thêm về những ngày thân sinh ông Nguyễn Ái Quốc khi ông đến trú ngụ ở Sa Đéc. Như nhiều người đã viết trên báo chí, sách vở, tên ông là Nguyễn Sinh Sắc, quê Nghệ-Tĩnh, đỗ Phó bảng và được Triều đình Huế cử làm quan phụ trách một địa phương ở Bình Định. Trong một cơn say rượu, ông đã lỡ tay đánh chết một can phạm nên bị Triều đình cách chức. Nguyễn Ái Quốc lúc ấy đang trên đường bôn ba ở hải ngoại, đã có viết đơn bằng Pháp văn gởi cho Khâm sứ Pháp ở Huế xin can thiệp để cha được trở lại quan trường nhưng việc đó không có kết quả. Ông Nguyễn Sinh Sắc đã lưu lạc vào Nam và đã có nhiều lần có những cơn say rượu trên đường phố Sài Gòn. Nhà báo Diệp Văn Kỳ đã nhiều phen giúp đỡ khi ông bị khó khăn vì say rượu nơi công cộng. Khi biết được tin ấy, cụ Cử Hoành đã cho người tìm đưa ông về Sa Đéc. Nơi đây, ông Nguyễn Sinh Sắc đã được giới thiệu đến tá túc ở gia đình một người có hằng sản ở thị xã là ông Võ Tấn Lập. Ông Cử Hoành có người vợ kế. Bà này là cháu của bà Hồ Thị Xuyến, vợ lẽ của ông Võ Tấn Lập. Ông Nguyễn Sinh Sắc được cho nương náu ở phần sau của căn nhà, ngày nay mang số 17/ 7 đường Lê Lợi, Thị xã Sa Đéc. Sau 30- 4- 1975, có thể vì gia chủ căn nhà này là một sĩ quan quân đội VNCH đang bị đi “cải tạo”, chánh quyền địa phương thời đó lại ghi nơi ông Nguyễn Sinh Sắc từng trú ngụ là nhà Bà Chín Đường, nằm ở góc đưởng Rue des Pêcheurs và Quai Tân Quy Đông(?). Về sau, phối kiểm lại, chánh quyền có ý định lấy nhà 17/ 7 đường Lê Lợi làm nhà “Truyền thống” và định gắn Bảng Tri Ân. Nơi đây, ông Nguyễn Sinh Sắc đã từng hành nghề coi mạch. hốt thuốc Bắc và cũng luôn thể, dạy chữ Nho cho con cháu gia chủ. Trong gia đình này, con cháu có lệ gọi cha mình là Thầy. Vì thế nên ông Sắc được mọi người gọi là Thầy Quảng vì ông từ xứ Quảng vào Nam. Người vợ chánh của gia chủ có tên là Trương Thị Sắc nên ông Nguyễn Sinh Sắc đã đổi tên thành Nguyễn Sanh Huy. Tên này ông dùng để tiện cho các tiệm thuốc Bắc ghi trong sổ để hưởng tiền hoa hồng khi các bịnh nhân đem toa thuốc của ông đến các tiệm này để hốt thuốc. Đó là một thông lệ thương mãi của các tiệm thuốc người Tàu. Tiệm thuốc Quản Hòa Sanh ở chợ Sa Đéc có giữ một sổ ghi chú nhiều lần tên ông Nguyễn Sanh Huy. Ông Nguyễn Sanh Huy có chấm một số tử vi cho cháu gia chủ khi người cháu này ra đời trong thời gian ông Huy đang trú ngụ. Người cháu này tên Võ Ngọc Lang, khi lớn lên là một sĩ quan trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, tốt nghiệp khóa 4 trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức năm 1953. Tuy đã được giải ngũ vào tháng 11 năm 1974, sau 30 – 4-1975, ông Lang vẫn bị bắt phải đi “học tập”cho đến tháng Tư năm 1982 mới được thả! Qua Mỹ theo diện HO, ông đang cư ngụ ở Torrance, California và hình như vẫn còn giữ được lá số tử vi viết tay của ông Thầy Quảng. Tuy được trú ngụ trong gia đình ông nội của ông Võ Ngọc Lang, nhưng ông Nguyễn Sanh Huy lại thân thích, tâm đầu ý hợp với ông ngoại của ông Võ Ngọc Lang tên Hà Văn Ngọ. Nhà ông Ngọ ở miệt Chợ Cồn, tỉnh lỵ Sa Đéc. Ông Nguyễn Sanh Sắc thường đến Cao Lãnh để xem mạch, hốt thuốc cho các gia đình nghèo ở đó. Các gia đình khá giả khác thường chọn các Thầy có gia sản ở địa phương và ít khi mời ông Thầy Quảng. Vào thời đó và cả cho đến cuối thập niên 1940, sự giao dịch giữa Sa Đéc, Cao Lãnh thường được thực hiện bằng loại đò đạp. Đây là một loại đò khá lớn, chuyên chở được trên hai mươi hành khách và hàng hóa. Đò di chuyển do sức đẩy của một bánh xe nước. Bạn đạp đò ít nhất cũng phải đến bốn người. Chợ Cồn là bến đò quan trọng. Ông Nguyễn Sanh Huy thường lên, xuống đò ở bến này và thường nhân dịp, ghé đàm đạo, đánh cờ với ông ngoại của ông Lang. Thêm nữa, mỗi khi đi Cao Lãnh, ông Thầy Quảng thường chỉ ở một vài ngày và khi về thường đem các loại dược thảo ông tìm hái được ở Cao Lãnh, giao lại nhờ ông ngoại của ông Lang phơi sấy để làm thuốc cho thân chủ nghèo. Một hôm, ông ngoại của ông Lang nhận được thơ do chủ đò đạp đem về từ Cao Lãnh. Ngươi đem thơ đã lơ đãng quên đưa thơ khi cập bến Chợ Cồn nên đã đưa trễ khi về đến bến chót ở chợ Sa Đéc. Trong thơ, người cho ông Nguyễn Sanh Huy tá túc mỗi khi ông đến Cao Lãnh, báo cho ông Ngọ biết tin ông Huy đang bị bịnh nặng. Vì không biết dùng xe đạp, ông ngoại của ông Lang đã đi bộ đến Cao Lãnh để thăm bạn. Vào chiều tối, lúc ông đến nơi thì ông Thầy Quảng đã chết rồi, thân mình còn ấm! Ông cùng chủ nhà tri hô lên, trình cho Hương Quản. Lục giấy tờ trong mình, thấy tên là Nguyễn Sinh Sắc, với số tiền hơn một đồng bạc Đông Dương Ngân Hàng, một số tiền khá lớn thời bấy giờ nhưng chưa đủ để tống táng. Bà con lối xóm đã quyên góp thêm để đủ tiền mua một hòm rẻ để liệm. Ông ngoại ông Lang đã vào Miễu Trời Sanh, xin ông Chủ Chùa cấp cho một mảnh đất nhỏ, mượn luôn đòn và dây luột để khiêng đi chôn cất. Theo tục lệ cổ truyền, đầu hòm đã được chôn hướng về phía mặt trời lặn để hồn sớm được siêu thăng. Nấm mộ được chôn gần với nhiều mộ vô danh khác nhưng mộ Thầy Quảng đã được nhiều gia đình trong giới cách mạng Sa Đéc chăm lo. Có một giai thoại lý thú ít người biết là vào khoảng 1946, sau khi Thỏa Hiệp Án (Modus Vivendi) được ký kết giữa Hồ Chí Minh và Marius Moutet sau Hội nghị Fontainebleau ở Paris, viên Quận trưởng quận Cao Lãnh là Trung úy người Pháp tên Menut đã cho người đắp đất, làm cỏ cho ngôi mộ!. Trước đó, một nông dân tên Tư Quyết, có việc đi từ Sa Đéc về Cao Lãnh bằng xe ngựa. Cùng đi trên có một lính Lê Dương. Anh lính này có trang bị một súng máy. Khi gần đến vùng Cao Lãnh là nơi tương đối an toàn, anh lính lơ đĩnh bỏ súng xuống trên sàn xe. Tư Quyết nhân cơ hội, giựt súng lủi nhanh vào xóm và đem nạp cho ủy ban kháng chiến địa phương. Để chứng tỏ tinh thần tôn trọng thỏa ước vừa được ký, ủy ban cho người đánh tiếng với viên Quận trưởng và cho người đem trả lại súng. Việc Trung úy Menut cho người sửa sang ngôi mộ đã chứng tỏ ông ta cũng biết ngôi mộ là mộ của thân phụ Hồ Chí Minh. Sau ngày 30- 4- 1975, vào khoảng 1976, tất cả các nấm mồ phía sau Miễu Trời Sanh, nơi an nghỉ cuối cùng của những người tứ cố vô thân được chôn cất nơi đây đã được chánh quyền mới bốc lên đem cải táng nơi khác. Riêng mộ ông Thầy Quảng giờ đây được xây cất huy hoàng bằng đá hoa theo mô hình một lăng tẩm rộng lớn. Cây kiểng quý được chăm sóc từ nhiều đời của dân chúng đã được đem cốâng hiến để trang trí trong lăng. Băng ghế công viên do các Công ty ghi tặng là để khách tứ phương có nơi dừng lại nghỉ chân. Cơ quan địa phương trong xứ đều đem sản phẩm quý báu về đây chưng làm kỷ niệm. Cây cối, thư viện, nhà cửa, đường đi… đã được bố trí rất mỹ thuật để nơi đây được xứng đáng với danh xưng mới: Lăng Cụ Phó Bảng.
    Từ một nấm mộ đất nhỏ đơn sơ, không bia, không tường vôi, đá chắn, giữa những nắm mồ vô chủ, mộ ông Thầy Quảng giờ đây đã trở thành một lăng tẩm uy nghi, rộng lớn, một công trình kiến trúc mỹ thuật. Các nấm mộ vô danh đã được dời đi cải táng nơi xa nào đấy để lấy đất xây lăng Cụ Phó Bảng. Tuy vậy, cầu mong sao cho hương linh của những nấm mộ hoang trước kia, nếu chưa được siêu thoát và hiện đang còn vất vưởng quanh Lăng, đã được Cụ Phó Bảng cho họ được tá túc trong lăng của Cụ, như ngày nào Cụ đã được những tấm lòng người miền Nam cho tá túc, trên bước đường lưu lạc của Cụ.
    Trần Nguơn Phiêu
    Amarillo, Texas, Tết Ất Dậu, 2005

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s