chiến dịch phản gián kinh điển trong chiến tranh lạnh

Theo VnExpress ngày 18/04/2012

Tháng 3/1981, theo sáng kiến của chỉ huy nhóm của CIA tại Nga, một sĩ quan tình báo Mỹ đặt chân tới Moscow trong khuôn khổ một dự án thử nghiệm mới có tên “Lỗ hổng sạch”.

Nhưng người Mỹ không ngờ rằng, đây cũng là bước đầu tiên giúp cho Cơ quan phản gián Liên Xô KGB đạo diễn một trong những chiến dịch phản gián thành công nhất trong lịch sử Chiến tranh lạnh.

Mọi chuyện bắt đầu khi Hathaway, sau một thời gian lãnh đạo bộ phận tình báo Mỹ tại Moscow, nhận ra rằng, các điệp viên của ông ta trên thực tế gần như đã đánh mất khả năng rời khỏi tòa nhà đại sứ quán mà không bị phát hiện. Mỗi lần ra ngoài, các mật vụ CIA có thể nhanh chóng nhận ra rằng họ đang bị theo dõi chặt chẽ. Trong khi đó, các nhân viên ngoại giao thuần túy đảm nhiệm những cương vị nhỏ tại đại sứ quán lại có thể tự do đi lại mà không hề bị giám sát.

Một trong những nguyên nhân giúp KGB luôn phân biệt được những đối tượng cần theo dõi là nhờ các điệp viên của họ đã được cài trong nội bộ CIA. Ngoài ra, phần lớn các tình báo của CIA tới Moscow khi đã ở độ tuổi 40-45, sau khi thực thi nhiệm vụ tại một số quốc gia khác nên về cơ bản đều đã “lộ diện”. Thông thường, mật vụ Xô Viết luôn có được thông tin khá chi tiết về một điệp viên CIA không lâu trước khi nhân vật này đặt chân tới Moscow.

Lỗ hổng nguy hiểm

Ý tưởng dẫn tới dự án thử nghiệm của Hathaway là nhờ nhận định cho rằng, một “lính mới” chưa từng làm việc ở nước ngoài của CIA chắc chắn sẽ khó bị phát hiện hơn nhiều. Khả năng này còn cao hơn nếu người đó chỉ từ 30 đến 35 tuổi, không thường xuyên tham gia vào các hoạt động hàng ngày của các đồng nghiệp, không tới các căn phòng dành cho CIA mà chỉ đảm nhiệm những công việc đơn thuần ở đại sứ quán.

Những điệp viên còn “trong trắng” như vậy thường được gọi là “hoa tuyết”. “Hoa tuyết” chỉ được sử dụng trong những thời khắc quyết định, giúp đảm bảo chắc chắn anh ta sẽ không bị theo dõi. Các “hoa tuyết” cần phải xuất hiện nhanh chóng tại địa điểm được yêu cầu vào thời điểm chính xác, hành động xuất quỷ nhập thần. Sự dính dáng của họ đến hoạt động tình báo chỉ được thông báo tại trụ sở CIA và đại sứ Mỹ tại Moscow.

Dự án “Lỗ hổng sạch” của Hathaway nhanh chóng được chuẩn y với đối tượng đầu tiên được lựa chọn là một sĩ quan trẻ có tên Edward Lee Howard, người đã đáp ứng tất cả những yêu cầu khắt khe được đặt ra đối với một ứng cử viên ở vị trí này. Do những khó khăn trong việc dự đoán các tình huống phức tạp có thể xảy ra, Howard đã được thông báo không chỉ về tất cả chiến dịch quan trọng nhất của CIA tại Moscow, mà còn về những nguồn tin bảo mật nhất. Một trong những tình báo viên mà Howard nắm thông tin là Adolf Tolkachev, công trình sư hàng đầu tại Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Phazotron thuộc Bộ Công nghiệp Vô tuyến Điện Liên Xô.

Tuy nhiên, Howard đã không có cơ hội được đưa sang Moskva, sau khi thủ tục kiểm tra qua máy phát hiện nói dối vào tháng 5/1983 cho thấy, anh ta đã gian lận khi trả lời câu hỏi về chuyện sử dụng ma túy trong thời gian còn phục vụ trong quân đội. Không những không được tới Liên Xô, Howard còn bị sa thải khỏi CIA mà không cần giải thích nguyên nhân.

Lệnh truy nã Edward Lee Howard, “Hoa tuyết” đầu tiên của CIA.

Cùng với cô vợ Mary, Horward chuyển tới sống tại thị trấn El-Dorado gần Santa Fe, thủ phủ bang New Mexico, Mỹ. Horward sau đó đã trở thành chuyên viên kinh tế tại Hội đồng lập pháp bang. Tuy nhiên, anh vẫn không thể nuốt trôi mối hận với lãnh đạo CIA. Horward bắt đầu sa vào rượu chè, hàng đêm gọi điện cho các đồng nghiệp cũ, bày tỏ sự bất bình cũng như chỉ trích các quan chức CIA. Có thể nói, “mối thâm thù” trên đã khiến Howard rơi vào trạng thái trầm cảm nặng.

Tháng 2/1984, trong một lần cãi lộn tại quán bar, Howard rút súng lục và bắn lên trần nhà. Anh ta phải ra tòa, nhận bản án 5 năm tù treo cùng với việc bị bắt chữa bệnh quản thúc tại một bệnh viện tâm thần. Tất cả những rủi ro trên cùng với chứng bệnh trầm cảm đều đã bị Howard đổ lỗi cho CIA. Sau 3 tháng chữa trị, Howard vi phạm lệnh cấm đi lại, bay tới châu Âu tham gia một khóa điều trị phục hồi.

Ngày 21/9/1984, Howard tới Vienna, bước chân vào Lãnh sự quán Liên Xô, bày tỏ nguyện vọng sẵn sàng chia sẻ thông tin mật về hoạt động của CIA tại Moscow. Howard đề nghị vỏn vẹn có 150.000 USD cho “dịch vụ đặc biệt” của mình. Thỏa thuận nhanh chóng được thực thi. Howard có được khoản tiền theo yêu cầu, còn phần của KGB là những thông tin đặc biệt quan trọng – trong đó đáng chú ý có dữ liệu về Tolkachev, về dự án “Lỗ hổng sạch”, lúc này đã trở thành một cách thức được CIA thường xuyên áp dụng tại Moscow. Về phần Howard, anh ta gửi số tiền trên vào tài khoản bí mật tại một ngân hàng Thụy Sĩ.

Chiến dịch “múa vòng tròn”

Có được những bằng chứng đầu tiên từ Howard, KGB đã thận trọng rà soát lại tất cả các chương trình và dự án khoa học mà công trình sư Tolkachev đã được tiếp cận tại trung tâm Phazotron, những thông tin liên quan đến các bí mật quân sự và quốc gia khác mà người này quan tâm. Ước tính trong vòng 5 năm, đã có một số lượng rất lớn các tài liệu có dấu “Tuyệt mật” hay “Đặc biệt quan trọng” đã qua tay Tolkachev. Điều này đồng nghĩa vi việc, rất nhiều những thành quả nỗ lực của các nhà khoa học Xô Viết đã bị Tolkachev bán cho người Mỹ.

Adolf Tolkachev (giữa) lúc bị bắt.

Nhưng rồi tâm trạng kinh hoàng từ hậu quả vụ án gián điệp này cũng đến lúc phải được thay thế bằng sự tính toán tỉnh táo. KGB thảo ra một loạt các biện pháp đối phó nhằm làm vô hiệu hóa Tolkachev hay ít nhất làm giảm tối thiểu những thiệt hại mà người này đã gây ra. KGB quyết định sử dụng những kịch bản của chiến dịch “Múa vòng tròn” vốn rất thành công trong quá khứ.

Chiến dịch tuyên truyền giả đầu tiên có tên gọi “Múa vòng tròn” của tình báo Xô Viết đã được triển khai hết sức thành công vào năm 1955. Nhiều ý kiến cho rằng thành công của chiến dịch đã giúp cho Liên Xô đi trước Mỹ cả một thập kỷ trong lĩnh vực chế tạo tên lửa và chinh phục vũ trụ.

Trong khoảng 20 phút diễn ra cuộc diễu hành của lực lượng không quân vào tháng 8/1955 (có sự tham gia chứng kiến của hàng loạt nhà ngoại giao và tùy viên quân sự phương Tây), xuất hiện các phi đội máy bay ném bom hạng nặng kiểu mới diễu qua bầu trời trên Quảng trường Đỏ. Điều này khiến giới chức phương Tây nhầm tưởng, Liên Xô đang sở hữu hàng chục, thậm chí hàng trăm chiếc máy bay ném bom siêu nặng hiện đại này.

Trên thực tế, Liên Xô chỉ sở hữu duy nhất một phi đội máy bay “khủng” trên, và các phi công được yêu cầu lượn vòng tròn để cứ khoảng 3 phút lại “tái xuất” trên đầu những quan chức phương Tây đang hết sức kinh ngạc. Mục tiêu chính của hành động nghi binh trên là để khiến cho phương Tây có cảm tưởng rằng, Liên Xô đang tập trung xây dựng lực lượng tiến công chiến lược của mình bằng cách tập trung chế tạo một số lượng lớn các máy bay ném bom hạng nặng. Trong khi, Moscow thực ra lại đang ráo riết nghiên cứu chế tạo các tên lửa đạn đạo xuyên lục địa.

Trò lừa này đã thành công mỹ mãn. Người Mỹ – mặc dù lúc đó đã có trong tay gần như toàn bộ công nghệ sản xuất tên lửa của Đức và cả công trình sư nổi tiếng Wernher Von Braun – đã quyết định chuyển trọng tâm đầu tư từ tên lửa sang chế tạo máy bay và các phương tiện phòng không. Mục tiêu là để có thể chống lại lực lượng máy bay ném bom siêu nặng hùng hậu của Liên Xô một khi chiến tranh bùng nổ.

Chính vì vậy, việc Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên vào tháng 10/1957, chính quyền và giới tình báo Mỹ bị sốc thực sự. Họ không thể tin được, làm sao Liên Xô có thể hồi phục nhanh như thế sau chiến tranh, có thể chế tạo được một loại tên lửa đẩy mạnh đến như vậy. Nhưng đỉnh cao thành công của chiến dịch tuyên truyền giả trên là ngày 12/4/1961, khi người đầu tiên bay lên vũ trụ có quốc tịch Liên Xô, chứ không phải Mỹ.

Chiến dịch “Múa vòng tròn” được đánh giá là một ví dụ kinh điển của hoạt động mật vụ và tuyên truyền giả của tình báo Xô Viết.

Trò chơi “Gậy ông đập lưng ông”

Để triển khai một phiên bản mới của chiến dịch “Múa vòng tròn”, việc đầu tiên là phải biến Tolkachev thành một kênh cung cấp thông tin giả, hoặc thậm chí những thông tin được xây dựng có chủ ý nhằm đưa tiến trình nghiên cứu của đối phương vào bế tắc, làm tổn phí thời gian, tiền bạc của họ. Dự tính này không phải là quá khó, nếu tính tới việc Tolkachev đã giành được lòng tin gần như tuyệt đối của người Mỹ sau hàng loạt những thông tin đặc biệt quý giá đã cung cấp.

Nói một cách ví von, Tolkachev đã trở thành một “trái bóng” trong trận đấu giữa hai kình địch – một bên là KGB, còn bên kia là CIA và cả tổ hợp công nghiệp quốc phòng của Mỹ. Sự cao tay của KGB thể hiện ở chỗ, họ không bắt Tolkachev, mà tiếp tục sử dụng hắn để chơi trò “gậy ông đập lưng ông” với CIA.

Trước khi chính thức bị bắt, các tài khoản của Tolkachev tại những ngân hàng Mỹ đã “tích lũy” hơn 5 triệu USD. Số tiền tưởng lớn như trên vẫn được coi là quá rẻ nếu so với những lợi ích mà Tolkachev đã đem lại cho người Mỹ trong việc tiết kiệm được tiền bạc và thời gian nghiên cứu khoa học. Trong lịch sử hoạt động, CIA chưa bao giờ có được một điệp viên có “giá trị kinh tế cao” đến thế. Ước tính Tolkachev đã đem lại cho Washington khoản tiền lên tới trên 100 tỷ USD. Chưa kể người Mỹ còn chia sẻ những thông tin quý báu từ Tolkachev cho đồng minh chủ chốt của họ tại Trung Đông là Israel.

Đối thủ chính của quốc gia Do Thái này là các nước Arab, nơi 99% máy bay quân sự có nguồn gốc từ Liên Xô. Các nước Arập nhanh chóng nhận ra sự thua kém nhanh đến bất ngờ của các máy bay Xô Viết trước hệ thống phòng không của Israel. Nhiều hợp đồng mua máy bay và phương tiện phòng không của Liên Xô đã bị các nước Arập hủy bỏ.

Qua nghiên cứu hệ thống các thẻ mượn sách thư viện của Tolkachev, cơ quan tình báo xác định rằng, gián điệp này từ năm 1981 đã có sự quan tâm đặc biệt tới công nghệ chế tạo máy bay tàng hình của Liên Xô. Cũng chính vào thời điểm này, Mỹ bắt đầu đẩy mạnh dự án “Stealth” nhằm chế tạo máy bay tàng hình. Liên Xô khi đó lại đang vượt trước Mỹ một khoảng cách đáng kể trong lĩnh vực này.

Thế là trong suốt 9 tháng, từ 10/1984 đến 6/1985, Tolkachev đã vô tình cung cấp cho các ông chủ bên kia đại dương một loạt thông tin đã được chế biến sẵn theo “thực đơn” KGB đã đặt hàng từ các phòng thí nghiệm khoa học của Liên Xô. Kết quả là Washington phải mất nhiều năm cùng số lượng lớn các phí tổn mới biết mình bị lừa. Phải mất tới 8 năm, những chiếc máy bay tàng hình theo công nghệ “Stealth” mới được triển khai ứng dụng lần đầu tiên trong chiến dịch “Bão táp sa mạc” chống lại Iraq vào năm 1991. Còn Tolkachev bị bắt vào tháng 6/1985 và phải nhận bản án tử hình một năm sau đó.

(Theo CAND)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s