nhận định của an chi về cuốn từ điển của J.F.M. Génibrel (1898)

Bài gốc: Hỏi đáp Đông tây báo Bách Khoa Tri Thức

Tác giả: An Chi

Độc giả: Về quyển Dictionnaire annamite – français của J.F.M. Génibrel, tôi chỉ có trong tay bản in của Imprimerie de la Mission à Tân Định, Saigon, 1898. Nghe nói bản in lần đầu của quyển từ điển này ra đời tại Sài Gòn năm 1877 nhưng không thấy ai có. Vậy xin cho biết sự thực ra sao. Bản in lần đầu và bản in lần thứ hai có khác nhau nhiều hay không? Xin cho biết đôi nét về giá trị của bản 1898.

An Chi: Về bản mà ông đang có trong tay, Từ điển thành phố Sài Gòn – Hồ Chí Minh, do Thạch Phương – Lê Trung Hoa chủ biên (Nxb Trẻ, 2001) đã ghi nhận tại tr.44 như sau:

“1898 (…) Cuốn Từ điển Việt – Pháp (Dictionnaire Annamite – Français) của Génibrel được tái bản (lần đầu in năm 1877), có kèm theo chữ Hán, chữ Nôm”.

Rồi tại tr.1049, quyển từ điển đó còn nhắc lại như sau:

“Dictionnaire annamite – français của Génibrel in lần đầu năm 1877 (không có chữ Hán và chữ Nôm), từ bản năm 1898 (có chữ Hán và chữ Nôm) dày 987 tr.”.

Cứ như đã được khẳng định trong Từ điển thành phố Sài Gòn Hồ Chí Minh thì quyển Dictionnaire annamite – français của J.F.M. Génibrel đã được in lần đầu tiên năm 1877. Nhưng rất tiếc rằng sự thật thì lại hoàn toàn không phải như thế: bản 1898 mới thực sự là bản in lần đầu tiên của quyển Dictionnaire annamite – français của J.F.M. Génibrel. Vâng, đúng như thế vì trong lời “Cùng độc giả” (Au lecteur) thì chính Génibrel đã viết nguyên văn như sau:

“En 1877 l’imprimerie de la Mission de Saigon pubilait un excellent petit Dictionnaire Annamite – français sans caractères, don’t l’auteur, Mgr Caspar, évêque et vicaire apostolique de la Mission de Hué, était alors simple missionnaire à Saigon. C’est cet ouvrage qui a servi de Canevas à notre travail: voilà pourquoi nous lui avons donné le titre de deuxième édition”. nghĩa là

“Năm 1877, nhà in của hội truyền giáo ở Sài Gòn đã ấn hành một quyển Dictionnaire annamite – français đặc sắc cỡ nhỏ không có chữ vuông (chữ Hán và chữ Nôm – AC) mà tác giả, Ngài Caspar, giám mục và Khâm mạng Tòa thánh của Hội Truyền giáo (chưa thụ phong – AC). Tác phẩm này chính là cái sườn cho công trình của chúng tôi: đó là lý do khiến chúng tôi gọi nó là bản in lần thứ hai”.

Cứ như trên thì hoàn toàn rõ ràng là Dictionnaire annamite – français (1898) của Génibrel là deuxième édition (bản in lần thứ hai) của Dictionnaire annamite – français (1877) mà tác giả là Caspar.

Cách ghi nhận trung thực mà oái oăm của Génibrel (“deuxième édition”) làm cho nhiều người ngộ nhận rằng công trình của ông đã có bản in lần thứ nhất vào năm 1877 mà không ngờ rằng bản 1877 lại là của… Caspar. Chính vì vậy nên không ai có được bản in lần thứ nhất quyển Dictionnaire annamite – français của J.F.M. Génibrel cả vì nó không hề tồn tại. Nhân tiện, chúng tôi xin nói thêm rằng trước quyển từ điển song ngữ Việt Pháp của Caspar, đã từng có một quyển Dictionnaire élémentaire annamite – français của Legrand de La Liraye do Imprimerie Impériale ấn hành năm 1868.

Tác phẩm của Caspar bây giờ rất khó tìm và vì không có nó nên cũng khó nói một cách chắc chắn công trình của Génibrel khác với nó nhiều đến mức nào, mặc dù có thể nói một cách chung chung theo lời ghi chú nơi trong nhãn là (édition) “refondue et très considérablement augmentée” (soạn lại và “bổ sung rất nhiều).

Chúng tôi nghĩ rằng công trình của Génibrel đúng là đã được bổ sung rất nhiều so với quyển của Caspar. Nhưng cũng phải nói rằng quyển từ điển của Génibrel còn có rất nhiều hạt sạn và đây là một công trình mà người ta chỉ có thể tận dụng với một sự dè dặt cần thiết và một sự phê phán tỉnh táo, rất tiếc rằng nhiều người đã xem nó như khuôn vàng thước ngọc không tì không vết. Và rất tiếc là chính quyển từ điển thành phố Sài Gòn – Hồ Chí Minh cũng đã xưng tụng nó bằng một ngữ danh từ rất kêu: “Cuốn từ điển Việt – Pháp tk XIX có giá trị nhất” (tr.1049). Thực ra, chỉ riêng trong việc dẫn và dịch một số thí dụ từ Truyện Kiều, nó cũng cho thấy sự nông cạn của tác giả trong việc nhận thức về từ ngữ của tiếng Việt. Nguyễn Quảng Tuân đã dành ra 18 trang (tr.65-82) trong quyển Chữ nghĩa Truyện Kiều (Nxb KHXH, Hà Nội, 1990) để chỉ ra những chỗ hiểu sai rất non nớt của Génibrel. Sau đây là một số thí dụ mà Nguyễn Quảng Tuân đã nêu:

“Đầu cành quyên nhặt cuối trời nhạn thưa.”

Génibrel đã hiểu sai thưa là đáp lại, trả lời (répondre) nên đã dịch cả câu trên là:

Le coucou chante, perché sur une branche, l’oie sauvage lui répond du haut des airs où il plane.

Đúng ra thì chữ thưa phải hiểu là thưa thớt và phải dịch là clairsemé” – (tr.67)

“Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai.

Génibrel đã hiểu sai chữ mai là lúc rạng đông (…) nên đã dịch cả câu trên là:

La tristesse est comme un bouton de fleurs qui s’épanouit comme l’urore du jour.

Đúng ra thì chữ mai phải hiểu là cây mai và phải dịch là abricotier”.  (tr.67)

“Nghĩ mình phương diện quốc gia Génibrel đã dịch là: “Réfléchir à part soi l’étendue du pays” thì đã chẳng hiểu gì cả.

Câu này Nguyễn Du nói đến vai trò quan trọng của Hồ Tôn Hiến, một vị quan to của triều đình chứ đâu phải đến đất đai rộng lớn (étendue – AC)”. – (tr.78-79)

Chúng tôi không dám lạm dụng mà trích dẫn nhiều hơn nữa. Chỉ xin nói thêm rằng trong những câu được nêu, ông Nguyễn Quảng Tuân có dụng ý chỉ nhắm vào một từ nhất định cho gọn chứ thực ra Génibrel còn sai nhiều hơn nữa. Chẳng hạn trong câu

Đầu cành quyên nhặt cuối trời nhạn thưa

mà dịch “cuối trời thành “du haut des airs” cũng không ổn vì đó phải là “à l’horizon”.

Hoặc trong câu

“Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai”

mà dịch “cúc” thành “bouton de fleurs” cũng không ổn vì đây là “chrysanthème” (tên một loài hoa) chứ có phải là “nụ hoa” đâu!

Génibrel có nói rằng trong 14 năm dành ra để biên soạn quyển từ điển của mình, ông đã nhờ vào sự giúp đỡ của một bậc túc nho (excellent lettré). Tiếc rằng ông đã không cho biết bậc túc nho đó là ai. Nhưng chắc chắn là những chỗ sai sơ đẳng trên đây của Génibrel đã không được nhà nho đó góp ý còn nếu người này có góp ý mà vẫn còn sai kiểu như thế thì chắc chắn là trình độ tiếng Việt và tiếng Hán của ông ta còn thua xa của các… ông đồ.

Tóm lại, Dictionnaire annamite – français của J.F.M. Génibrel là một quyển sách công cụ cần thiết và bổ ích. Nhưng sự đánh giá có lẽ chỉ nên dùng ở mức độ này mà thôi chứ nếu nâng nó lên hàng “number one” thì e là Sẽ gây ra một sự hiểu lầm tai hại chăng?

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s