những đứa con của phố arbat và cuộc đời của a. rybakov

Bài gốc: Viết sao cho thật nhiều người đọc của tác giả daibieunhandan (Đăng Bẩy)
Ngày đăng: 06/07/2011 2:32:14 CH

Con người có cuộc đời sáng tạo gắn liền với lịch sử Liên bang Xô Viết để lại những tác phẩm Thanh đoản kiếm, Con chim đồng, Những đứa con của phố Arbat… khá thân thuộc với người đọc Việt Nam và còn nguyên sức thu hút nhiều thế hệ độc giả ở mọi miền trên trái đất. Sách của ông được xuất bản ở 52 nước, tổng ấn lượng hơn 20 triệu bản. Thật khó tin được Anatoli Rybakov chào đời cách nay cả một thế kỷ.

Anatoli Rybakov trong phòng văn, 1987

Anatoli Rybakov sinh ngày 14.1.1911 trong một gia đình gốc Do Thái ở Chernygov, từ năm 1919 chuyển về Moskva sống tại phố cổ Arbat. Tốt nghiệp phổ thông, nhà văn tương lai phải làm nhiều nghề kiếm sống: công nhân xưởng hóa chất, bốc vác, lái xe… nên hai mươi chín tuổi mới bước chân vào trường đại học Giao thông vận tải. Thế nhưng, học được ba năm, ngày 5 -11.1933, A. Rybakov bị bắt và lĩnh án tù giam ba năm vì tội “tuyên truyền phản cách mạng”. Mãn hạn tù, không được phép cư trú trong thành phố, anh lang thang hầu khắp nước Nga, nhận làm tất cả các công việc kiếm sống miễn là không phải khai báo, cho đến năm 1938 mới được vào biên chế chính thức, làm kỹ sư trưởng phòng quản lý vận tải đường bộ khu vực Riazan. Năm 1941, chiến tranh bùng nổ, A. Rybakov vào phục vụ trong các đơn vị vận tải quân đội, tham gia chiến đấu ở hầu khắp các mặt trận từ Moskva đến Berlin, năm 1946 làm đến chức trưởng ban cơ giới của quân đoàn, mang hàm kỹ sư thiếu tá. Do những thành tích xuất sắc trong chiến đấu chống quân phát xít, Rybakov được sửa lý lịch, thành “không có tiền sự, tiền án” và đến năm 1960 thì được khôi phục danh dự hoàn toàn.
Một trường đời như thế mà để ngoài văn chương thì thậm vô lý – và năm 1947, Rybakov bắt đầu hướng vào hoạt động văn học, mở đầu là thiên truyện phiêu lưu li kỳ dành cho tuổi thiếu niên Thanh đoản kiếm (1948, được đưa lên màn ảnh hai lần, vào năm 1954, 1973) rồi hai phần tiếp theo: Con chim đồng (1956, thành phim năm 1974) và Tiếng súng (1975, trước đó, năm 1974 đã được dựng thành phim Mùa hè cuối cùng của tuổi thơ). Thành công của hai cuốn sách đầu tay giúp nhà văn tự tin đi tiếp mạch truyện viết cho thiếu niên: từ Những cuộc phiêu lưu của Krosh (1960, thành phim năm 1961) ông viết hai cuốn tiếp theo Những kỳ nghỉ của Krosh (1966, thành phim năm 1979), Người lính vô danh (1970, hai lần lên màn ảnh – Phút mặc niệm, 1971 và Người lính vô danh, 1984).

Bảng vinh danh tại ngôi nhà Rybakov từng sống trên phố Arbat

Ở thể loại tiểu thuyết dành cho người lớn, Rybakov thử sức bằng cuốn Những người cầm lái (1950, về những chiến sĩ lái xe vận tải, cựu đồng nghiệp của mình), và năm sau được giải thưởng Stalin hạng nhì. Khi Stalin thấy trong danh sách những nhà văn được đề nghị tặng giải thưởng mang tên mình có Rybakov, ông bèn bảo A. Fadeev, người đứng đầu Hội Nhà văn Liên Xô hồi ấy: “Thế đồng chí có biết người này đã bị khai trừ đảng và ba lần bị tòa xử về tội phản cách mạng?” Và Rybakov đã giải trình được: ông chưa hề được kết nạp nên không có chuyện khai trừ, còn án tù thì đã được hủy từ khi ông đang ở chiến trường. Tiếp đó, Rybakov thành công lớn với Ekaterina Voronina (1955, về đường đời một cô gái mồ côi trở thành nhà quản lý giao thông đường sông với những thăng trầm theo thời cuộc, được dựng thành phim năm 1957) rồi cho ra đời Mùa hè ở Sosnyaky (1964, về nhân tình thế thái tại công trường xây dựng một khu liên hợp hóa chất bên bờ hồ Baikal). Năm 1978, cuốn Cát nặng ra đời. Tiểu thuyết này kể về chặng đời 1910 – 1950 của một gia đình người Do Thái tại một địa phương có nhiều dân tộc chung sống ở miền bắc Ukraina, về mối tình sâu nặng bất chấp mọi rào cản qua hàng chục năm, về thảm kịch lò thiêu người của bọn phát xít làm thiệt mạng hàng triệu người dân tộc thiểu số thuộc những quốc gia khác và xóa sổ gần 1/3 tổng số người Do Thái trên toàn cầu, đồng thời kể lại gương chiến đấu dũng cảm của những chiến sĩ du kích chống phát xít. Tác phẩm đỉnh cao này kết hợp được cả vẻ đẹp văn chương, cả chiều sâu triết học, vừa có sự phân tích lý giải những sự kiện lịch sử, vừa có tính biểu tượng cao: hình tượng nữ nhân vật chính trong mối tình kể trên, và sau đó, ở phần cuối tiểu thuyết, là người mẹ, người vợ của Rakhile đầy tính ẩn dụ về lòng căm thù của dân Do Thái đối với phát xít Đức. Tác phẩm được chuyển thể thành phim truyền hình nhiều tập năm 2008.
Chịu số phận lận đận hơn cả là tiểu thuyết Những đứa con của phố Arbat: được tác giả viết xong từ những năm 1960, thời Khrutshov, nhưng đến năm 1987 thời Gorbachov phát động cuộc cải tổ mới có thể đến với độc giả và năm 2005 thành phim truyền hình nhiều tập. Trong lứa thiếu niên ở phố Arbat đầu thế kỷ XX khá nhiều người tài, trong đó có nhà thơ – nhạc sĩ Bulat Okudjava và nhà văn Anatoli Rybakov cùng sống ở dãy nhà đánh số lẻ. Cả hai nhà văn bậc thầy này đều đã ra mặt trận chiến đấu: Okudjava – con trai của một tù nhân – tình nguyện nhập ngũ khi mới mười bảy tuổi, còn Rybakov – cựu tù nhân về tội “tuyên truyền phản cách mạng” – sung vào đơn vị vận tải quân sự và được phục hồi danh dự khi Okudjava đã có năm năm tuổi Đảng. Những đứa con của phố Arbat là tác phẩm sớm nhất viết về số phận lứa thanh niên mới lớn vào những năm 1930 và được dịch giả Lê Khánh Trường nhanh chóng chuyển sang tiếng Việt. Cốt truyện tự nhiên dựa trên những biến cố có thật trong đời tác giả, với nhãn quan đúng đắn của nhà văn, nhìn nhận chuyện quá khứ tuy vương nỗi buồn thương, nhưng bao trùm là một thái độ khoan dung, không oán thán, Những đứa con của phố Arbat được coi như một “quả bom tấn trong văn học”, mang lại vinh quang thực thụ cho nhà văn. Được đà, tác giả sau đó viết tiếp cả một chùm ba tiểu thuyết nữa: 1935 và những năm khác (1989), Kinh hoàng (1990), Bụi và tro (1994).


Bìa sách Những đứa con phố Arbat

Cũng như đối với nhiều tác phẩm trước đó, Rybakov thường đi tiếp mạch của cuốn truyện thành công để làm thành những cuốn sách trọn bộ. Đặc biệt, giữa bộ truyện này với bộ truyện kia vẫn có mối liên quan gắn bó: nhân vật chính trong Những đứa con của phố Arbat là Sasha Pankratov từng xuất hiện thấp thoáng trong cuốn Tiếng súng. Người đọc có thể thấy nét đặc sắc này khi có trong tay bộ Tuyển tập tác phẩm Anatoli Rybakov gồm bảy cuốn, xuất bản năm 1995.
“Có những nhà văn coi việc chủ yếu của mình là viết, là thể hiện bản thân, còn chuyện độc giả có đọc hay không chỉ là hàng thứ yếu. Tôi không thuộc loại đó. Tôi chỉ muốn có thật nhiều người đọc! – Rybakov tâm sự: – Người đọc cứ đọc và đọc, rốt cuộc họ cần hiểu nhà văn muốn nói gì. Văn học khác các loại hình nghệ thuật khác ở chỗ nó không có người trung gian. Người đọc của văn học đích thực cũng trở thành người cùng sáng tạo với tác giả”. Nhưng đâu phải ông chỉ chăm chú vào sáng tác loại truyện phiêu lưu phổ cập đại chúng. Trong Tiểu thuyết – Hồi ký (1997), Rybakov ghi lại tỉ mỉ cuộc trò chuyện năm 1986 với Alexandr Yakovlev, một trong những nhà tư tưởng chủ chốt của công cuộc cải tổ, kêu gọi vị Viện sĩ Thông tấn của Viện Hàn lâm khoa học Nga quay trở về với chính sách kinh tế mới của Lenin. Ông coi giai đoạn tốt đẹp nhất của đời mình là trước năm 1927, khi ông mười sáu tuổi, chính sách kinh tế mới được Lenin dẫn dắt thành công, đất nước có dân chủ, phục hồi kinh tế nhanh, có nhiều thành phần tham gia sản xuất, kinh doanh, xuất bản… Thật tiếc, những thành quả này sau đó đã không được người kế tục duy trì và phát huy. Sau khi đất nước bước vào thời “tan băng”, Rybakov hào hứng đứng ra vận động thành lập Trung tâm Văn bút Liên Xô thuộc PEN Club quốc tế, rồi đến những năm 1989 – 1991 trở thành chủ tịch của tổ chức này và được trường Đại học Tổng hợp Tel Aviv (Israel) phong là Tiến sĩ Triết học. Với tư cách công dân, A. Rybakov cho biết ông chưa hài lòng với vị tổng thống cuối cùng của Liên Xô (coi Gorbachov “hóa ra không phải thủ lĩnh, mà mới chỉ có điệu bộ của một thủ lĩnh”), còn tổng thống đầu tiên của Liên bang Nga Eltsin thì “chưa tương xứng với tư chất vốn có”). Ông tự nhận là “nhà văn của xã hội, viết có chuyện, tức là viết ra những số phận con người”.
Như Kornei Chukovsky từng nói, ở Nga, nhà văn cần phải sống lâu. Rybakov là nhà văn sống lâu và hạnh phúc trên phương diện sáng tạo. Bắt đầu viết văn ở tuổi ba mươi bảy, ở độ tuổi đó, nhiều nhà văn Nga danh giá đã không còn sống nữa, vì vậy ông viết nhiều. Ngày làm việc của ông từ 9 giờ đến 15 giờ bao gồm: viết, ăn trưa và dạo chơi, đi bộ hoặc đạp xe. Buổi tối ông tiếp tục làm việc, và đêm đến, bao giờ ông cũng ở tư thế bút giấy sẵn sàng. Tự nhận là một trong số ít nhà văn trên thế giới chỉ sống bằng nhuận bút, ông có thói quen chừng nào chưa viết xong cuốn tiểu thuyết, chừng đó không chịu đi đâu khác. Hồi 1946, ông không chịu ra khỏi nhà chừng nào chưa kết thúc cuốn Thanh đoản kiếm. Tất cả sách của ông, không cuốn nào được viết dưới tám lần, và tất cả đều là tiểu sử của thế hệ mình. Ông tự nhận là “nhà văn xã hội, viết có chuyện, tức là viết ra những số phận con người”.
Rybakov quan niệm nhà văn phải sống ở chỗ nào được yên tĩnh và làm ra nhiều việc nhất, như Gorky thích sống ở Sorrento, Gogol – ở Rome, còn Graham Green – ở Nice… Năm 1992 ông sang Mỹ dự lễ ra mắt bản tiếng Anh của tiểu thuyết Khiếp sợ. Trong khi chờ nhà xuất bản chuẩn bị cho việc đó, ông tranh thủ viết cuốn tiếp theo. Thấy thế, Đại học Tổng hợp Columbia bèn chi 1.500 USD/ tháng để thuê cho nhà văn một căn hộ với điều kiện phải ghi rõ trong sách là tiểu thuyết được viết tại trường này. Viết xong Bụi và tro, ông mang bản thảo đến giao cho trường, họ xuất bản, kéo theo liên miên những cuộc đăng đàn, giao lưu với độc giả… Phải viết hồi ký, ông ở lại, nửa năm sống ở Mỹ, nửa năm sống ở Nga.
Anatoli Rybakov mất ngày 23.12.1998 tại New York, được đưa về an táng tại Moskva. Số phận đã giúp ông kịp cất lên tiếng nói của mình trong văn học. Nối tiếp sự nghiệp của Rybakov, người con trai Alexei Makushinsky và người cháu gái Maria Rybakova cũng đã trở thành nhà văn.

Nguồn: daibieunhandan (Đăng Bẩy)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s