đừng bao giờ quên tố hữu

 

Lời bạt: Người Việt Nam có câu:
                                                     “Hổ chết để da,
                                                      Người ta chết để tiếng”

Trong những năm cuối đời có vẻ như nhà thơ Tố Hữu đã ít nhiều suy đoán tự đánh giá về mình. Dường như ông đã biết vị trí sự nghiệp chính trị và thơ ca của ông đã kết thúc ở đâu trong lòng dân tộc. Cái còn lại giá trị cho ông là cơ ngơi căn nhà ông ở đã mấy chục năm mà uy quyền bổng lộc đã đem lại. Dù sao cũng là món tiền rất lớn cho con cháu của ông, không phải là mất tất cả. Ông cũng có chút hối hận muộn màng. Thôi thì bán danh cũng đã hơn ba vạn, ông cũng còn may mắn hơn bao người khác.

Bài viết sau đây của nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn, tổng kết khá xuyên suốt “sự nghiệp” của một “nhà thơ dân tộc”.

Để hiểu thêm Tố Hữu

Trước mắt tôi là sưu tập Văn Nghệ số 40 ra 3-1953. Lúc này cơ quan Hội văn nghệ đang đóng ở rừng Việt Bắc. Nhân cái chết của Stalin, tạp chí của Hội ra một số đặc biệt, không chỉ Tố Hữu mà nhiều tác giả khác có bài liên quan tới sự kiện này.

Về thơ

Chế Lan Viên có Stalin không chết, mở đầu bằng mấy câu

Stalin mất rồi
Đồng chí Stalin đã mất!
Thế giới không cha nặng tiếng thở dài

Ở đoạn dưới

Mẹ hiền ta ơi
Em bé ta ơi
Đồng chí Stalin không bao giờ chết

Triệu triệu mẹ già em dại
Đều là súng Stalin để lại ( VTN gạch dưới)*
Giữ lấy hòa bình thế giới
Tiếng nổ ca vang dội thấu mặt trời

Các bài tiếp theo:

Trước bài Đời đời nhớ Ông của Tố Hữu là bài Nhớ đồng chí Sta lin của Huy Cận

Tiếp đó các bài của Bàn Tài Đoàn, Nông Quốc Chấn.

Xuân Diệu có bài Thương tiếc Đại nguyên soái Stalin:

Nghe tin mất mới thấy lòng quyến luyến
Từ bao lâu yêu Người tận tủy xương
Tiếng khóc đây là tất cả can trường
Thấy Người thật là bát cơm miếng bánh
Người gắn với chúng con trong vận mệnh

Về phần văn xuôi.

Phan Khôi có bài Một vị học giả mác-xít thiên tài. Trước khi viết kỹ về cuốn Chủ nghĩa Mác và vấn đề ngôn ngữ, Phan Khôi có đoạn dạo đầu ngắn:

Đối với cái chết của Đại nguyên soái Stalin, vấn đề đề ra trước mắt những người đang sống là: Chúng ta phải học tập Stalin, học tập đạo đức cách mạng và trí tuệ của ông, được cả càng hay, không thì được phần nào cũng hay phần ấy, đó là một đảm bảo vững chắc cho cuộc thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, của Chủ nghĩa tân dân chủ.

Lê Đạt thì xuất hiện như một phóng viên, ghi lại không khí một nhà máy trong rừng khi nghe tin Stalin mất. Bài viết khoảng 3.000 chữ này kể chuyện cái chết của Stalin đã gợi lên niềm xúc động to lớn, từ đó đánh thức tinh thần lao động sáng tạo của cả một tập thể công nhân gang thép.

Xin phép mở một dấu ngoặc.

Ngoài các bài Liễu, Bài thơ tình ở Hàng Châu, Tế Hanh còn có bài thơ ngắn sau đây, viết trong đợt thăm Trung quốc 1962. Tôi vẫn thường nhẩm lại mỗi khi nhớ tới đời sống tinh thần của chúng tôi những năm 1965 về trước.

Hồ Nam xe chạy không dừng bước
Dãy núi cao liền dãy núi cao
Quê hương lãnh tụ mây thêu nắng
Thấy mặt trời lên nhớ bác Mao

Tôi muốn thầm nói với Tế Hanh: Anh không việc gì phải xấu hổ cả. Hồi ấy, bao nhiêu người nghĩ thế, chứ đâu phải riêng anh!

Trở lại chuyện Tố Hữu.

Nếu có ai hỏi tôi thích bài nào của Tố Hữu nhất, tôi sẽ nói rằng đó là cụm mấy bài ông làm hồi đi tù, in trong phần Xiềng xích của tập Từ ấy.

Bài Nhớ đồng
Gì sâu bằng những trưa thương nhớ
Hiu quạnh bên trong một tiếng hò

Bài Tiếng hát đi đầy
Hỡi những anh đầu đi trước đó
Biết chăng còn lắm bạn đi đầy

Những bài thơ này có cái giọng mà sau này không bao giờ Tố Hữu có nữa. Nhà thơ bơ vơ trong cảnh đơn độc ở núi rừng. Phải làm thơ, phải lấy thơ để tự khẳng định, thơ cất lên không để cho ai mà trước tiên để cho mình .

Những bài thơ viết khi người ta không biết mình sẽ sống hay chết như thế này,
tôi còn gặp một lần nữa trong thơ VN về sau, đó là tập Ánh sáng và phù sa.
Khi soạn tập thơ (1960), Chế Lan Viên chưa chuyển sang giai đoạn lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi sắc phù sa , như Xuân Sách sẽ viết .

Sinh thời, Tố Hữu hay nói, đại ý hãy coi ông là nhà cách mạng, sau đó mới là nhà thơ.

Như thế tức là ông cũng đã biết chỗ đứng của mình trong lịch sử.

Có điều không phải luôn luôn người ta làm được đúng như những điều người ta tự xác định.

Là một người hết sức nhạy cảm và sẵn có cả chất mệ của quê hương, ông thừa biết nhiều khi dân văn nghệ ca ngợi thơ ông vì ông là quan chức phụ trách người ta, nắm sinh mệnh của người ta.

Song nếu đủ sáng suốt để từ chối những lời nịnh bợ thường trực thì ông đã không còn là ông nữa.

Lẽ đời là vậy, lúc được được quá cái đáng được, thì lúc mất cũng mất quá cái đáng mất.

Nhưng về phần chúng ta, mỗi lần đả động đến ông, tôi nghĩ nên phân biệt đang nói về ông như một quan chức cao cấp hay nói về ông như một nhà thơ.

Khoảng năm 1973, Hà Nội có một triển lãm điêu khắc với ngôn ngữ khá hiện đại của Nguyễn Hải và Lê Công Thành. Chính Tố Hữu cũng rất thích — sang Hội nhà văn nghe ngóng về, Nguyễn Khải báo cho tôi biết tin vui đó. Nhưng rồi hóa ra chúng tôi mừng hụt. Mấy vị to hơn tới xem cho là không được. Và người ta lại thấy Tố Hữu cho truyền đi nhận định không thể tìm tòi kiểu ấy, mà hãy trở lại với thứ điêu khắc mô phỏng đời thường, kiểu Trần Văn Lắm!

Tức là cũng như chúng ta, Tố Hữu cũng có lúc phải làm ngược điều mình nghĩ.
Trước đó năm 1965, Nguyễn Thành Long bị nạn với bút ký Cái gốc. Bài ký cũng chẳng có chuyện gì đen tối lắm, chỉ tả phụ nữ trong chiến tranh quá nhếch nhác, nên bị Đảng đoàn Hội phụ nữ kêu.Theo chỗ tôi nhớ, lúc đầu Nguyễn Thành Long rất tự tin, vì Tố Hữu đã nhắn xuống tỏ ý bênh, “họ có Đảng đoàn thì mình cũng có Đảng đoàn chứ “( ý nói Đảng đoàn phụ nữ và Đảng đoàn văn nghệ– hai cấp tương đương nhau ). Thế nhưng bên phụ nữ kiện lên trên và cuối cùng văn nghệ thua, Cái gốc chung số phận với Tình rừng.

Nguyễn Khải kể khoảng năm 1963, có lần được dự một cuộc họp cùng bí thư tỉnh ủy các tỉnh đồng bằng do Tố Hữu chủ trì, chắc là bàn về công tác tuyên huấn. Trong lúc nghe mọi người thảo luận, bỗng Nguyễn Khải thấy Tố Hữu đang đi quanh thì dừng lại, ghé vào tai mình nói nhỏ:

– Chắc nhà văn nhìn cảnh này như một trò hề?!

Rồi ông lảng ngay, lên bàn chủ tịch, tiếp tục lo nốt các việc đang làm dở.

Cái lạ của các nhà văn sau 1945 là khi tính viết con người thời nay, chỉ hay viết về nhân vật quần chúng công nông. Còn những người kéo quần chúng đi, vẽ ra cái mẫu điển hình để quần chúng sống theo và nói chung chỉ có vai trò đơn giản là…lèo lái toàn bộ đời sống – những nhân vật quan chức nhân vật cán bộ kiểu ấy lại chả ai viết bao giờ.

Tôi đã phác qua một vài nét về Tố Hữu hồi ở Việt Bắc trong ghi chép về Nguyễn Đình Nghi.

Nhị Ca kể với tôi cái tình tiết sau đây: trong rừng, cạnh cơ quan, thường có những quán cà phê, anh em hay ra đấy đấu láo. Đang vui thì Tố Hữu đến. Thế là mọi người không ai bảo ai rút lui hết. Chỉ còn một người bao giờ cũng ngồi với Tố Hữu đến cùng. Là Hoài Thanh.

Cái công của Tố Hữu hồi ấy là giữ cho được anh em đi theo kháng chiến đến cùng không để họ trở về thành.

Những năm chiến tranh, thỉnh thoảng một số anh em viết trẻ chúng tôi cũng được gọi đi nghe Tố Hữu nói chuyện. Có một câu ông nói khiến tôi nhớ nhất và phải nói thực sợ nhất, đó là cái ý ông bảo sang nước ngoài thấy đời sống họ lạnh lùng lắm, về nước thấy đồng bào mình sống với nhau, ấm cúng hơn hẳn.
Ông cũng thường nói là nổi tiếng ở nước ngoài thì dễ, nổi tiếng ở trong nước mới khó .

Lại có lần khuyến khích lớp trẻ, ông bảo phải biết đấu tranh cho chân lý, khi cần phải cắn xé(!). May mà bọn tôi đã nghe nhiều về tính đồng bóng của ông, nên chẳng mấy cảm động, nhớ đâu hình như chính Xuân Quỳnh bảo rằng có mà ông cho ghè gẫy răng.

Tố Hữu quản cán bộ cấp dưới thế nào? Nguyễn Khải nhận xét có vẻ như càng những người bất tài và có khuyết điểm ông lại càng thích dùng. Những ông A ông B từng bị Tố Hữu mắng như tát nước vào mặt lại rất vững vàng trong vị trí của mình. Vì ông thừa biết loại đó bảo thế nào họ cũng phải nghe.

Bảo Định Giang, người phụ trách Hội liên hiệp những năm ấy thường kể với mọi người ông Lành dọa sẽ lấy đầu nếu BĐG để một vài văn nghệ sĩ tiêu biểu lơ mơ ở Hà Nội rồi dính bom đạn.

Một lần, khoảng những năm trước 1980, tôi ngồi với Nguyễn Khải, Xuân Sách, cùng giở một số báo Tết. Khi ấy Tố Hữu đã đi phụ trách kinh tế, nhưng các số báo tết vẫn có bài của ông. Nguyễn Khải sát hạch tôi:

– Thằng Nhàn hãy thử bình một câu xem nào.

Tôi lúc đầu cũng chỉ biết nói như mọi người:

– Thế là được một nhà kinh tế mà mất một nhà thơ.

Nguyễn Khải gạt phắt đi:

– Không được.

Trong cơn bí, tôi phụt ra một ý mà trước đó tôi không hề nghĩ:

– Người làm ra những bài thơ như thế này thì chắc làm kinh tế cũng không ra gì!

Bấy giờ Nguyễn Khải mới cười, bảo ra tôi cũng bắt đầu biết rồi đấy.

Kim Lân có lần rủ rỉ bảo tôi chính Tố Hữu đã kể với tác giả Vợ nhặt rằng hồi nhỏ ông mắc bệnh mộng du. Có lần chui lên cả bàn thờ họ mà làm một giấc ngủ trưa

Tố Hữu & một nền văn nghệ phục vụ cách mạng
Bài viết trên Thể thao& văn hóa,
ngày Tố Hữu mất

Viết lần đầu 12-2002

Trước nay đã vậy mà vào dịp Tố Hữu qua đời cũng vậy, tác giả Từ ấy thường được biết tới như một tiếng thơ hùng tráng, nhà thơ mang tiếng nói của cách mạng, người mà sinh thời, mọi sáng tác được truyền tụng rộng rãi đến mức chưa một nhà thơ nào trong lịch sử dân tộc biết tới.

Nhưng trên cái nền rộng rãi của lịch sử đất nước nửa cuối thế kỷ XX, Tố Hữu còn nổi bật trong một vai trò lớn lao khác: ông chính là một thứ tổng công trình sư đảm nhiệm vai trò thiết kế, một thứ tổng đạo diễn, suốt đời gắn bó với mọi hoạt động của nền văn nghệ mới.

Hà Nội đầu 1946. Cách mạng thành công đã được mấy tháng, nhưng nhiều văn nghệ sĩ còn đứng ngoài, một người như Nguyễn Tuân sau này cũng kể là ông còn “ ngủng ngoẳng chưa thật sự muốn theo Việt Minh “. Một lần, nghe Hoài Thanh nói rằng có một nhà thơ cách mạng muốn gặp, ông “ nắn gân “ bằng cách hẹn ngay ở Thuỷ Tạ Bờ Hồ ( lúc bấy giờ là một nơi ăn chơi phức tạp ! ). Nhưng nhà thơ kém Nguyễn Tuân đúng chục tuổi kia không ngán, mà vẫn tới, thuyết phục Nguyễn Tuân tham gia đoàn văn nghệ sĩ đi mặt trận. Nhà thơ đó là Tố Hữu.

Hạ Hoà, Phú Thọ, mùa đông 1948. Hội văn nghệ Việt Nam đã được thành lập, song còn lúng túng trong phương hướng sáng tác, nói theo chữ của Xuân Diệu là các ông còn “ mơ màng tìm kiếm những sáng choang bóng lộn thơm phức tận đâu đâu…” Một lần, trên mặt trận đưa về một bài thơ là bài Viếng bạn của Hoàng Lộc. Đọc xong, Xuân Diệu phát biểu thành thật “ Chẳng thấy hay”. Lúc ấy có một nhà thơ khác “đã rất bầu bạn làm trạng sư cho bài thơ “. Theo chính lời kể của Xuân Diệu, “ anh chăm chăm bình lại từng đoạn một, giúp tôi cảm xúc cái tình cảm của bài thơ đặng cho tôi thành bà con rồi ruột thịt của nó. Từ đêm hôm ấy, tôi vỡ lẽ ra dần, dần dần chuyển cách thức ăn nếm của mình “. Nhà thơ đó cũng là Tố Hữu.

Hai mẩu chuyện trên đây đã tóm tắt khá đầy đủ hai phương diện còn ít được nói tới trong đóng góp của Tố Hữu đối với lịch sử văn học. Đó là, một mặt tập hợp đội ngũ sáng tác, tổ chức họ thành một binh đoàn hùng mạnh trong lực lượng cách mạng; mặt khác, dần dần từng chút một, làm thay đổi cả cách hiểu cũ về văn học, hình thành nên một cảm quan văn chương mới và thông qua các phương tiện truyền thông, nhất là thông qua hệ thống nhà trường được phổ cập rộng rãi, nhân rộng mãi nó ra, biến nó thành cảm quan của thời đại.

Những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp phát hiện cho người ta thấy hình ảnh một Tố Hữu như là một nhà cách mạng bẩm sinh : ông dám bắt đầu một công việc từ chỗ gần như chỉ có hai bàn tay trắng. Thành công của ông giữa núi rừng Việt Bắc là thu hút được những tên tuổi nổi tiếng (từng được xem như niềm tự hào của kháng chiến ) từ Ngô Tất Tố tới Phan Khôi, từ Nguyễn Tuân tới Thế Lữ, từ Hoài Thanh tới Đoàn Phú Tứ… trong một tổ chức gọn gàng là Hội văn nghệ, quản lý họ, lôi cuốn họ vào công việc, cùng với họ ra báo dịch sách và đưa họ đi tham gia các chiến dịch cho đến ngày theo chân các đoàn quân về giải phóng thủ đô 10 / 1954.

Mặc dù về sau còn được giao phó nhiều trọng trách khác trên các lĩnh vực tư tưởng và có khi cả kinh tế, song không bao giờ Tố Hữu rời bỏ công tác văn nghệ, mảnh đất đã giúp ông xây dựng sự nghiệp chính trị. Với ông những câu “ văn nghệ phục vụ chính trị “ hoặc “ văn nghệ cũng là một mặt trận “ không chỉ là khẩu hiệu mà là quan niệm có thể và cần phải được hiện thực hoá hàng ngày.

Sau kháng chiến chống Pháp, ông kiên định trong việc chỉ đạo từ vụ Nhân văn giai phẩm tới các cuộc chống xét lại cũng như giáo điều trước chiến tranh, để rồi tiếp tục huy động một cách rất thành công sự đóng góp của giới văn nghệ trong những năm chống Mỹ.

Tình thương mến, tình nghĩa, thuỷ chung… là những điều thường được ông nhắc lại nhiều hơn cả khi tiếp xúc với những con người làm việc trên lĩnh vực nhạy cảm này. Ông hiểu rất rõ chỗ mạnh chỗ yếu của họ. Khi nâng niu trân trọng lúc yêu cầu se sắt gắt gao, ông biết cách làm cho mỗi người trong họ có được kết quả cụ thể trong công việc.

Với sự nhạy cảm tuyệt vời của một nghệ sĩ, ông hình thành được một đội ngũ những người cộng sự trung thành, từ Nguyễn Đình Thi tới Chế Lan Viên, từ Hà Xuân Trường tới Bảo Định Giang… và nhờ thế có tiếng nói quyết định trong các vấn đề trọng yếu của văn nghệ ngay cả khi đã quá bận bịu vì những công việc to lớn khác.

Tinh thần cách mạng, tinh thần sáng nghiệp sử ( khai phá một con đường đi mới dám làm những việc xưa nay chưa ai từng làm ) cũng được Tố Hữu quán xuyến trong khâu xây dựng một quan niệm mới về văn nghệ. Cách mạng cần động viên tinh thần chiến đấu của công nhân nông dân ? Thì ông lo đào tạo những người sáng tác xuất thân từ công nông và nhất là lo có những tác phẩm giản dị, tự nhiên mà công nông có thể hiểu được. Những chuẩn mực của nền văn nghệ cũ tỏ ra không thích hợp với yêu cầu cấp bách của cách mạng ? Thì chúng phải bị gạt bỏ để thay thế bằng những chuẩn mực mới. Điểm xuất phát của những chuẩn mực vừa hình thành này là dễ làm nhiều người có thể làm, dễ hiểu và không ai có thể hiểu sai, bởi đây là một nền văn nghệ thuộc về nhân dân lao động.

Câu chuyện về thị hiếu về cái gout mà trên đây Xuân Diệu đã kể nhân bài thơ Viếng bạn của Hoàng Lộc mang một tinh thần như vậy. Có thể nói Tố Hữu đã làm những việc này với một niềm tin kỳ lạ. Ông không truy tìm những công việc có ý nghĩa lý luận thuần tuý. Những đúc kết của ông là đơn giản thiết thực dễ kiểm tra dễ theo dõi xem nó đã được quán triệt đến đâu, do đó nhanh chóng đi vào thực tiễn.

Những chuẩn mực mới này cố nhiên cũng là điều được Tố Hữu theo đuổi trong sáng tác thơ ( một việc mà gần như không bao giờ ông có điều kiện dành toàn bộ công sức song cũng không bao giờ xao nhãng ). Ở đây có thể nói tới một sự gặp gỡ tự nhiên giữa kiểu tài năng thơ ở ông và những gì ông tin theo và muốn mọi người cùng tin theo.

(Tôi vẫn nhớ một ý của Lê Đình Kỵ đánh giá Ba mươi năm đời ta có Đảng: Đó là một kiệt tác của thể diễn ca)*

Một điều có thể chắc chắn, chẳng những thơ Tố Hữu mãi mãi là bằng chứng của một thời đại trong văn nghệ mà cái cơ chế văn nghệ do ông thiết kế còn tồn tại dai dẳng và những tư tưởng lý luận của ông còn tiếp tục chi phối đời sống văn nghệ trong những năm sau khi ông đã qua đời. Chúng ta có thể chán nó, chê trách nó, muốn thoát khỏi nó, nhưng không thể phủ nhận là đã có nó, nó có lúc là một bộ phận trong gia tài tinh thần của mỗi người làm văn chương nghệ thuật thời nay.

Theo nghĩa ấy, tất cả chúng tôi không ít thì nhiều đều là trong bàn tay nhào nặn của Tố Hữu. Và đến lượt mình, chính ông cũng chỉ là một công cụ của lịch sử.*

*Những đoạn nhấn mạnh mới bổ sung 4-10-2010

HAI BÀI THƠ TỐ HỮU

Sau đây là hai bài thơ Tố Hữu viết về Triều Tiên, bọn học sinh cấp II ( trung học cơ sở ) chúng tôi được học trong chương trình chính khóa mấy năm 1956-57 ở Hà Nội, nhưng lại không thấy in trong các tập thơ của tác giả. Tôi ghi theo trí nhớ, nên có thể có khiếm khuyết, mong được lượng thứ.


Em bé Triều Tiên

Em bé Triều Tiên ơi
Mẹ của em đâu rồi ?

Có ai đây mà hỏi
Giặc bốn bề lửa khói

Mẹ của em đấy ư ?
Cái thân trắng lắc lư
Đầu dây treo lủng lẳng

Cha của em đấy ư?
Cái đầu lâu rũ tóc
Máu chảy dài thân cọc

Không, không phải em ơi
Mẹ của em đây rồi
Mẹ em đây
Người dân công tải đạn
Mẹ em đây người nữ cứu thương

Cha em đây giữa chiến trường
Mặt đen khói đạn chặn đường giặc lui.

Anh Chí nguyện
Con Bác Mao đã đến
Anh đã đến
Với cha em giết hết loài man rợ
Cho mẹ em xây lại tổ mềm
Cho em sướng cho em ca múa
Trên đồng hoa bãi lúa
Nhịp sống vui muôn thuở của Triều Tiên

Bé em ơi, giữa súng rền
Ngày mai tươi mát hát trên đất Triều!

Việt Nam – Triều Tiên

Việt Nam với Triều Tiên
Ta là hai anh em
Sinh đôi cùng một mẹ
Thương nhau từ thuở bé
Nay đều khỏe lớn lên

Việt Nam với Triều Tiên
Ta thành hai đồng chí
Ta thành hai anh hùng
Ta thành hai chiến lũy
Cùng bảo vệ hòa bình
Kim Nhật Thành—Hồ Chí Minh
Hai chúng ta là một
Qua Trung Hoa ta như liền khúc ruột
Với Liên xô ta chung một mái nhà

Bây giờ ta đến thăm ta
Nhìn nhau khóe mắt mầu da thân tình

Cây thông xanh Triều Tiên cháy xém
Thương cây tre Việt Nam giặc chém
Cây thông xanh nhựa chẩy ròng ròng
Thương cây tre đứt ruột đứt lòng

Nhưng chúng ta quyết không khuất phục
Chúng ta không một lúc cúi đầu

Chúng ta chiến đấu bên nhau
Tâm giao một tổ trước sau một đường

Ta quyết giữ quê hương Triều Việt
Cho chúng ta cho cả loài người
Quang vinh Việt Bắc Tháp Mười
Quang vinh Trường Bạch đỉnh đồi Thượng Cam

Triều Tiên với Việt Nam anh dũng
Đất nước ta dù im tiếng súng
Đường bạn còn đi tới Tế Châu
Đường chúng tôi còn tới Cà Mâu
Ta lại bước bên nhau lại bước
Như giông tố không thể nào ngăn được.

Bây giờ ta với ta đây
Triều Tiên với Việt Nam anh dũng
Hôm nay hãy hôn đôi bàn tay
Hôm nay hãy hôn đôi nòng súng
Giữ hòa bình Tổ quốc chúng ta
Và ngàn năm Triều Việt một nhà.

Vương Trí Nhàn

15-10-2010

Theo Blog Vương Trí Nhàn

Có 1 Phê Bình

Share / Bookmark This Post...


Có 1 Phê Bình cho bài “Để hiểu thêm Tố Hữu”

nguyễn duy ân | October 16th, 2010 at 5:55 pm

commenter

Nghĩa tử là nghĩa (chưa) tận.

“Nghĩa tử là nghĩa tận” là câu tục ngữ mang tính nhân bản trong văn hóa của dân tộc Việt Nam. Đối với một người đã chết không ai nỡ nhắc lại những khuyết tật hay bươi móc những việc làm xấu xa, kể cả những chuyện tồi tệ nhất của họ ra để đàm tiếu, bêu rếu. Ngay cả những nhân vật lịch sử, những người có địa vị cao lớn bao trùm xã hội, đất nước như những quan quyền, vua chúa.

Thế nhưng người ta sẽ không tha, nếu như có ai đó vẫn xưng xưng đề cao, nêu những thành tích giả của người chết (nhất là đối với những nhân vật tiếng tăm lừng lẫy) để bịp thiên hạ.

Như trường hợp Tố Hữu, năm nay lại làm kỷ niệm sinh nhật 90 năm cho TH, nghe nói cũng om sòm theo đại lễ nghìn năm Thăng Long! Tổ chức trình diễn thơ nhạc ở nhà hát Lớn (2/10), tổ chức hội thảo ở ban tuyên huấn trung ương (4/10)

Năm ngoái, cũng vào tháng 10 (2009), vì chờ đợi quá lâu mà không thấy đảng và nước xây “Nhà lưu niệm” cho “đệ nhất thi nô” Tố Hữu nên gia đình đã tự xây dựng và “tổ chức khánh thành Nhà lưu niệm Nhà thơ Tố Hữu tại làng quốc tế Thăng Long, Hà Nội.” theo TTXVC/VN:

“Bà Vũ Thị Thanh, vợ của cố Nhà thơ Tố Hữu cho biết việc xây dựng nhà lưu niệm này là theo nguyện vọng của nhiều độc giả, bạn bè để đáp ứng mong muốn được tìm hiểu sâu hơn về cuộc đời của Nhà thơ.
Tố Hữu được đánh giá là một nhà thơ, nhà văn hóa lớn, tiêu biểu nhất của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ 20, một lãnh đạo chủ chốt, khai sáng và có nhiều tác phẩm đỉnh cao trong phong trào thơ cách mạng Việt Nam hiện đại./.”
Ai đánh giá?
Muốn đánh bóng, tô son thếp vàng cho chồng mình thì cứ việc làm, có gì lấn cấn mà phải đổ thừa là làm theo “nguyện vọng của nhiều độc giả…” Có bao nhiêu độc giả rỗi hơi, phí thì giờ để đọc thơ Tố Hữu? Học sinh bị bắt buộc phải học thơ TH thì họ đâu có thì giờ và nhu cầu gì để nêu “nguyện vọng” xây “nhà lưu niệm” cho “thơ hào Tố Hữu?”
Những người có tên tuổi “lớn”dù tốt hay xấu cũng không ai phải luôn luôn nhắc tới, nếu không có sự việc gì liên quan đến.
Phật, Chúa… sở dĩ người ta nhắc nhở hàng ngày hàng giờ vì nhu cầu đời sống đạo đức, tâm linh. Những nhà chính trị, xã hội, khoa học… người ta chỉ nhắc đến khi cần so sánh, học tập, nghiên cứu.
Những kẻ hung tàn, độc ác.. người ta nhắc đến để nguyền rủa mỗi khi xẩy ra những hiện tượng tương đồng. Hoặc khi nào có kẻ đưa họ ra để ca tụng.
Đảng CSVN vô tình hay cố ý để cho dân chúng nguyền rủa những lãnh tụ cao nhất từ trước tới nay, nên vẫn thường xuyên đem tên tuổi những người nầy ra để đánh bóng, tô hồng hằng năm hay mỗi khi có dịp.
Có lẽ cũng quá ngượng về thành tích nịnh bợ của Tố Hữu, nên báo chí văn học trong nước về sau nầy cũng ít nhắc đến nhà thơ “lớn” nầy .
“Nhà lưu niệm” mà gia đình của Tố Hữu chờ đợi lâu quá nên phải tự đông nhờ vào “nguyện vọng của nhiều độc giả” để xây dựng thì biết!
Nhân dịp nầy người viết lại đưa ra những bài cũ về Tố Hữu khi nhà “thơ hào” còn tại thế.
Vào thời đó, thập niên 90, intrenet chưa được phổ biến, để có được một tờ báo, một bài viết ở trong nước phải chờ sớm nhất là vài tháng, Có người đã cắt bài báo gởi cho kèm theo thư nói là “bài thơ nầy TH viết cách nay gần 10 năm…” (tính ngược lại từ 1997):
Thất Tuần
Bảy mươi mốt tuổi đảng và thơ
“Từ ấy” hồn vui mãi đến giờ *
Mái tóc pha sương chưa cạn ý
Con tằm rút ruột vẫn còn tơ
Thuyền con lướt sóng không nghiêng ngã
Bể cả xuôi dòng lộng ước mơ
Mới nửa đường thôi còn bước tiếp
Trăn năm duyên kiếp Đảng và thơ
Tố Hữu
* “Từ ấy” là bài thơ Tố Hữu sáng tác vì lấy làm sung sướng đã gặp được đảng (CS): “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ!”
Bài “Thất tuần” nầy Tố Hữu làm khoảng giữa thập niên 80, Thế kỷ trước với tựa “Trăm năm duyên kiếp Đảng và thơ”. Lúc nầy TH đang lên tột đỉnh vinh quang: Phó thủ tướng kiêm bộ trưởng (giá lương tiền!)

Họa:
1/ Bản Chất
Bảy mươi mốt tuổi vẫn ngây thơ!
“Từ ấy” lầm sai mãi đến giờ
Đứa nịnh già đời không bỏ thói
Con tằm mãn kiếp chỉ giăng tơ
Mưa dồn trước mặt còn ôm mộng
Bão táp sau lưng cứ tưởng mơ!
Nòi giống nhà ai kinh khiếp thế
Sinh ra giỏi nịnh thuở còn thơ!

2/Hết Thuốc
Một đời lầm Đảng rất ngây thơ
Cố đấm ăn xôi đến tận giờ
Học chước già Điêu “lắt” cái giống!
Theo nghề lão Dịch “thịt” con tơ! *
Tầng trời sấm động còn mê ngủ
Đáy vực thuyền chìm chẳng tỉnh mơ
Khuyển mã thay da hoàn khuyển mã
Cha đời đứa nịnh giả ngây thơ!
*Thụ Điêu, Dịch Nha hai đại nịnh thần của Tề Hoàn Công Thụ Điêu tự thiến để làm hoạn quan, Dịch Nha giết thịt con ruột do vợ mới sinh để đem nấu cho Hoàn Công ăn!

3/ Ghiền Nặng
Nịnh lên tột đỉnh hứng làm thơ
Tỉnh ngộ mau đi đã cận giờ
Đội đít Xít tà chưa sáng mắt
Nâng đuôi Hồ cáo mãi tương tơ
Liên xô tan tác ngươi còn ngủ!
Cộng Sản tiêu tùng đảng vẫn mơ
Ăn phải bã gì mê muội thế?
Ngu đần? Hay giả bộ ngây thơ?

4/Ngũ Thập
Năm mươi, chống Cộng, đánh bằng thơ
Mắng lũ gian manh, phí hết giờ!
Vạch tội Trung ương từ kẻ tóc
Soi lầm Bác đảng tận đường tơ
Tự do cơm áo dân mong ước
Danh vọng sang giàu tớ chẳng mơ
Diệt ác, tham, si: phù chính đạo
Văn chương bồi bút: búa bằng thơ!
(25/1/1997)
***
Mùa Xuân 1999, lại có người photo và gởi cho bài “Chào Xuân 99!” của Tố Hữu, người viết đã ngẫu hứng với bài :

NẦY ÔNG TỐ HỮU!
Nếu như bài thơ đó:
Bài thơ: “Chào Xuân 99!”(*)
Không để tên tác giả
Và xoá bỏ đi vài đoạn:
Đừng ca ngợi Hồ và đừng nhắc chi tới đảng
Thì lại là một bài thơ hay
Đáng cho vào văn học sử
Nhưng không
Đây là bài thơ của một tên ngoa ngôn xảo ngữ
Một tên điếm văn nghệ
Giỏi nghề điếu đóm xum xoe
Lừng danh nhờ tài ngợi ca những tên đồ tể
Như Hồ Chí Minh
Như Xít ta lin…
Lại nói đến “đất nước nghĩa tình”
“Lương tâm đạo lý”!
Thứ văn chương đánh đĩ
Chẳng chút ngượng miệng ngượng mồm
Cứ hót như loài vẹt
Cả nước Việt Nam ai mà không biết
Tố Hữu thợ thơ
Chuyên viên làm vè để suy tôn cái ác
Làm thơ lục bát
Để xưng tụng cáo Hồ, Lê Nin, Mao Mác…
Yêu si mê tên cuồng sát Xít ta lin
Lại thắc mắc:
“Sao gần xa cái ác cứ rình”?
Nầy ông Tố Hữu
Ông lại giả vờ hay ông chẳng thông minh?
-Cái ác nằm ngay trong óc tim những người Cộng Sản
Ông vịt vờ hay là ông đang mê sảng?
Mà tụng mãi những câu thần chú không linh của già Hồ
Thiên tài bịp bợm
Mấy chục triệu dân Việt Nam
Từ bé đến già
Người người đều ghê tởm:
“Xoá sạch bất công”?!
Bằng mã tấu dao gươm
Với xích xiềng, lao tù, ngục tối !
“Trọng đức tài”?!
Là ăn cướp giữa ban ngày
Chẳng chút nương tay
Là đẩy cá bơi rừng, xua chim lội biển?
Nầy ông Tố Hữu:
Ai hô hào giai cấp đấu tranh?
Ai khuyến khích căm thù chém giết?
Lại tự phong mình là “tinh hoa dân tộc”!
Ai là “rồng”? Ai là “rắn độc”?
Thì làm chi có “hạnh phúc chung”?
Làm chi có “xã hội người hiền”?
Dưới bóng đêm Cộng Sản!
Nầy ông Tố Hữu:
Ông “không (còn) hơi sức (để) khơi dòng thẳng”
“Đến năm hai ngàn”
Rứa là may cho dân cho nước Việt Nam
Nếu ông “còn chút phù sa”
(Là tích tụ của hận máu lệ, oán xương da)
Thì “gắng bồi” cho Bắc Hàn, Trung Cộng, Cu Ba…
Bởi dân Việt Nam đã quá kinh sợ:
(Xin tha!)
Làm sao có thể:
“Người người là bạn”?!
Với những kẻ cuồng điên Cộng Sản:
Như Hồ Chí Minh!
Như Xít- ta- lin!
Hoặc như ông: Tố Hữu!
(3- 4- 1999)
(*)Bài thơ “Chào Xuân 99!” của Tố Hữu đăng trên “Văn Nghệ Tết Kỷ Mão” là một bài thơ uốn lưỡi giả trá, trái hẳn những bài thơ hô hào đấu tố, thúc giục chém giết trước kia, nhưng cũng không quên tán tụng đảng, ca ngợi Hồ. Những câu, chữ trong ngoặc kép là những câu, chữ trong bài thơ của Tố Hữu.
***
Khi Tố Hữu chết, tin tức loan đi nhanh hơn, người viết liền có bài thơ “phúng điếu” Từ đó chẳng muốn viết thêm gì về Tố Hữu nữa!

Thơ điếu Tố Hữu
Khen thay khéo chọn cái tên Lành
Che đậy tâm tà dưới bí danh
Bán nước giặc Hồ xưng Ái Quốc
Phò gian Tố Hữu gọi Kim Thành (*)
Thi nô sặc sụa lời nâng đội
Bút nịnh đầm đìa giọng máu tanh
Tang lớn bởi may còn đảng trị
Miệng đời khó thoát tiếng “ô danh!”
(20- 12- 2002)
(*) Tố Hữu tên là Nguyễn Kim Thành Lành là bí danh Chết ở Hà Nội ngày 19/12/2002.

10/10/2010
nguyễn duy ân

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s