tiêu đề phải báo trước được nội dung

Chủ đề của bài này là một tiêu đề của một (phân đoạn) diễn ngôn phải báo trước được nội dung dưới tựa đề mà nó đưa ra. Cũng như khi người ta vào quán thấy vẻ con bò thì trong quán phải có da, thịt, hay sữa của nó.

Ta thử xem đoạn sau đây trong bản dịch bài viết The Ten Grave Problems Facing China của R Barmé do Phạm Nguyên Trường dịch đăng trên blog pro&contra – (phạm thị hoài)

(…)
Grave Problem 5

The bureaucratization and profit-incentivisation of educational and scientific research institutions shows no indication of being ameliorated and it continues to stifle creativity

được chuyển thành:

Quan liêu hóa và khuyến khích về mặt vật chất các cơ sở giáo dục và nghiên cứu khoa học chưa cho thấy có sự cải thiện và tiếp tục bóp nghẹt sáng kiến.

Người đọc không khỏi thấy hoang mang: tại sao việc khuyến khích về vật chất lại cần phải được cải thiện cùng với sự quan liêu hóa? Nếu đọc nguyên bản thì hóa ra cái gây ra bức xúc chính là: Tệ quan liêu và thói chạy theo lợi ích ngắn hạn trong các trường viện nghiên cứu khoa học, đây là cái mà nội dung của phân đoạn bên dưới đề cập đến:

(…) The guiding philosophy of education is tilted more and more towards profit-generation, as universities and scientific research institutes alike are evaluated on the basis of the number of published papers, which has taken a toll on people’s spirit and capacity of innovation. Phương châm của giáo dục càng ngã nghiêng về phía sinh lợi (trước mắt) khi mà các trường viện nghiên cứu được đánh giá (thuần túy) trên số bài nghiên cứu được công bố, điều đã gây tổn hại về tinh thần và năng lực sáng tạo của người làm khoa học

Cũng cần nói thêm chữ people trong đoạn này không chỉ người dân chung chung, mà nói về những người làm khoa học

KẾT LUẬN: Khi dịch tiêu đề / tựa đề nếu không thấy chưa rõ ý thì phải đọc nội dung bên dưới mà nó giới thiệu, qua đó có thể làm rõ câu chữ và chọn cách dịch phù hợp. Nếu trực dịch mà gây mơ hồ thì phải chọn ý dịch.

Tiêu đề trên có thể được dịch như sau

Tệ quan liêu và thói chạy theo lợi ích (ngắn hạn) trong các trường viện nghiên cứu khoa học không có dấu hiệu sửa đổi và ngày càng bóp chết tinh thần sáng tạo.

 

 


THAM KHẢO BẢN DỊCH của Phạm Nguyên Trường tại địa chỉ:
http://www.diendantheky.net/2012/10/ang-duat-van-muoi-van-e-nghiem-trong.html

nguyên bản tải địa chỉ

http://www.thechinastory.org/2012/09/the-ten-grave-problems-facing-china/

Grave Problem 5

The bureaucratization and profit-incentivisation of educational and scientific research institutions shows no indication of being ameliorated and it continues to stifle creativity.
Education and scientific research is the foundation of a country. In the past decade, even though major progress has been made, quantity instead of quality is given priority. Few great scientists have emerged and original results are scarce. All these impair the realization of the goal of constructing an innovative country. The bureaucratization of the educational system has became more entrenched. The guiding philosophy of education is tilted more and more towards profit-generation, as universities and scientific research institutes alike are evaluated on the basis of the number of published papers, which has taken a toll on people’s spirit and capacity of innovation.

Vấn đề nghiệm trọng số 5:

Quan liêu hóa và khuyến khích về mặt vật chất các cơ sở giáo dục và nghiên cứu khoa học chưa cho thấy có sự cải thiện và tiếp tục bóp nghẹt sáng kiến.

Giáo dục và nghiên cứu khoa học là nền tảng của quốc gia. Trong thập kỉ vừa qua, mặc dù có nhiều thành tích to lớn, người ta đã chú ý nhiều hơn tới số lượng, thay vì chất lượng. Ít nhà khoa học lớn xuất hiện, những kết quả độc đáo còn hiếm hoi. Tất cả những điều đó cản trở việc thực hiện mục tiêu xây dựng đất nước sáng tạo. Việc quan liêu hóa hệ thống giáo dục càng tiến xa(1) hơn. Triết lí giáo dục càng ngày càng hướng tới việc tìm kiếm lợi nhuận, còn các trường đại học và các viện nghiên cứu thì được đánh giá trên cơ sở số bài báo được công bố, điều đó đã gây thiệt hại về mặt tinh thần và khả năng đổi mới của người dân.(2)

 
(1) entrenched: có nghĩa ăn sâu, bám rễ, một nghĩa tiêu cực, không phải tiến xa, một nghĩa tích cực

(2) người dân, khi phân biệt với chính quyền, đồng nghĩa với nhân dân, trong tiếng Anh là the people, ví dụ: the will of the people: nguyện vọng của người dân [Collins Cobuild Avanced Learner’s English Dictionary,  Fifth Edition 2006, trang 1063]

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s