hồi ký tạ tỵ (iii)

TẠ TỴ: HỒI KÝ VĂN NGHỆ (hết)

Originally posted by nguyentrongtao on 08.12.2012

Quantcast

Tạ Tỵ
Tạ Tỵ

Tôi được tha về vào đầu 1981. Trước khi đi cải tạo, tôi cân được 62 kg- khi về cân lại- chỉ còn đúng 35 kg. Tôi gầy như bộ xương biết đi. Răng rụng gần hết, còn vài cái, kể như vô dụng trong vấn đề ăn uống. Trong tờ Giấy ra trại, CS chỉ ghi lý do: “…quá già yếu, không còn đủ sức lao động!”. Họ tha và tin rằng, thế nào tôi cũng chết, có thể trên đường về, có thể gặp mặt vợ con rồi xuống đất!

Cũng may, nhờ sự săn sóc tích cực của gia đình và Trời còn để sống, nên tôi mạnh trở lại lần lần; tuy không thể nào bằng hồi trước khi đi cải tạo. Về đến nhà được vài hôm, tự nhiên 1 bàn chân sưng to, có chiếc mụn nhỏ nổi lên, rồi mỗi ngày mỗi lớn.

Người đến thăm tôi đầu tiên làDoãn Quốc Sỹ. Chúng tôi ôm chặt lấy nhau như bắt được của. Mỗi người kể cho nhau nghe về sự gian khổ, nhục nhằn mà mình đã gánh chịu, dưới sự cai trị bạo tàn của các trại Cải tạo. Doãn Quốc Sỹ may mắn hơn tôi, bị giam có trên 2 năm rồi được thả. Lúc đó, tôi nghĩ, sở dĩ Doãn Quốc Sỹ được tha sớm, vì nhờ vào sự can thiệp của nhà thơ Tú Mỡ, đảng viên đảng CS là bố vợ! Nhưng tôi đã lầm, vì sống trong chế độ CS, ai làm nấy chịu, không ai can thiệp, giúp đở đươc ai; trừ có thế lực quốc tế, họa may!

Nhà thơ Phan Lạc Tuyên, có người con [là] thiếu úy, khi CS chiếm xong Saigon; Tuyên vô Nam, bắt đứa con trai phải đi trình diện học tập cải tạo ngay lập tức. Đó là Phan Lạc Tuyên mới đi theo CS từ 1961, đã vậy, nói gì đến những đảng viên kỳ cựu !

Nghe tin tôi được tha, Mỹ Tín vội vã đến thăm cùng kịch sĩ Thiếu Lang. Thấy chân tôi bị sưng, có một lỗ sâu hoắm chảy nước vàng ở mu bàn chân, Mỹ Tín vội đi mua trụ sinh cho uống. Tôi vô cùng cảm động về cung cách đối xử nhân hậu của Mỹ Tín với tôi. Đi đâu, tôi cũng phải chống gậy, dù ở trong nhà. Ngoài số thuốc trụ sinh do anh Mỹ Tín cho, vợ tôi phải mua thêm cả một lọ Lyncocin,uống mới khỏi bệnh. Sau đó, đến chuyện nhổ nốt mấy cái răng còn lại, làm răng giả.

Ở trong tù, mỗi lần đau răng quá, đau đến mất ngủ, tôi cho tay đấm mạnh vào hàm. Sau cú đấm, nó dịu đi một chút, xong, lại đau gấp bội. Có lần đau quá, tôi nhờ anh em nhổ, bằng kìm sửa xe, không cần thuốc tê. Máu chẩy đầy mồm, lát sau, mặt mày sưng to như đĩa xôi cúng. Tôi mong được chết, bất cứ chết bằng cách nào mà không được!

Thiếu Lang luôn luôn an ủi tôi bằng câu: “… Thế là cậu yên chí, đã có bằng tốt nghiệp trong tay rồi !”

Anh cũng có một cậu con trai đi học tập cải tạo, nhưng được về sớm, chỉ là ở trong Nam thôi. Mỗi ngày, tôi đều có bè bạn tới thăm, những người có may mắn, không bị đi cải tạo, hoặc có đi, nhưng được tha sớm, như bác sĩ Trần Văn Tích chẳng hạn. Cũng đi một lượt, nhưng giới bác sĩ, được CS ưu đãi, vì còn cần đến họ. Các bác sĩ miền Bắc [khi ấy] còn quá yếu về chuyên môn, không đọc nổi tên thuốc, còn nói gì đến chữa bệnh. Trần Văn Tích lại thăm tôi, vào 1 buổi chiều đã nhạt nắng. Anh cho biết, từ ngày được tha, bắt buộc anh phải hợp tác với bác sĩ CS, để làm thông dịch viên giữa các bác sĩ quốc tế và họ. Bác sĩ Tích cũng có viết một cuốn sách tham luận về đông y, được CS in và phát hành. Sách bán rất chạy, dù kỹ thuật ấn loát rất kém, giấy lại xấu. Chúng tôi thông cảm nhau, qua hòan cảnh, chỉ mong ngày nào được ra khỏi nước Việtnam đầy đau khổ và thù hận này! Anh cho tôi biết, chính phủ Tây Đức đã can thiệp với CS, cho gia đình anh được định cư tại Tây Đức.

Tôi vượt biên qua Mỷ được chừng 3 năm, bỗng nhận được thư anh, từ bên Đức gửi qua. Như vậy, anh cùng gia đình đã thoát.

Kế tiếp, là Nguyễn Đình Toàn, lọc cọc đạp chiếc xe đạp cũ đến thăm. Toàn có gầy đi, tuy không bị bắt đi cải tạo, nhưng đời sống quá túng thiếu, làm sao có thể béo tốt được; nhất là cái tạng Nguyễn Đình Toàn có mập bao giờ! Sở dĩ, Nguyễn Đình Toàn không bị bắt, trong ‘đợt đánh phá các nhà văn, thơ Ngụy’ – vì CS cho rằng, văn của Toàn không chống Cộng, chỉ viết về cái xấu của chê độ Saigon thôi !

Nguyễn Đình Toàn đưa tôi đến thăm Duy Trác, ca sĩ có giọng hát rất ấm, truyền cảm. Là trung úy thuộc Nha Quân pháp, vì có văn bằng cử nhân Luật; khi đến nhà, Duy Trác đi vắng. Tôi và Nguyễn Đình Toàn vừa đạp xe đạp vừa nói chuyện, Toàn cho biết Nguyễn Mạnh Côn đã chết trong tù, và thuật lại cho tôi nghe vì sao Côn chết? Dĩ nhiên, Toàn đâu có tù cùng Nguyễn Mạnh Côn, chỉ được biết qua anh em, những người cùng bị nhốt với Côn. Ai cũng tưởng rằng Côn nghiện ngập như vậy, làm sao sống nổi với cơn ghiền vật vã mỗi ngày – thế nhưng, anh vẫn kinh qua được và còn tỏ thái độ coi thường cai tù. Có lần, Nguyễn Mạnh Côn nói thẳng với CA rằng: “… các anh chưa phải cấp xét xử tôi. Người có đủ thầm quyền là (…) kìa, các anh chỉ ở cấp thừa hành – vả lại – chúng tôi có tội gì đâu má bị xét xử ?”

Vì có thái độ như vậy, nên Nguyễn Mạnh Côn bị biệt giam. Nhưng anh vẫn không sợ.

Còn Vũ Hoàng Chương được tha về mấy bữa thi chết – báo hại nàng Oanh đã nghèo, lại phải làm ma cho chồng! Trong đời sống, Vũ Hoàng Chương có nhiều cái may mắn hơn Đinh Hùng; nhưng ở hoàn cảnh này, Đinh Hùng chết trước, lại là cái may vì dù sao khi Đinh Hùng mất, cũng còn đầy đủ anh em tiễn đưa đến chỗ ở sau cùng!

Cách vài ngày Nguyễn Đình Toàn lại từLàng Báo Chí đạp xe sang thăm, còn cho biết, đang tim cách vượt biên; chứ, thỉnh thoảng lại bị CA mời đến làm việc, mệt quá!

Sau khi chân đã lành, bộ răng giả tuy không tốt đẹp gì; nhưng nhờ nó, ăn uống cũng đỡ khổ. Lúc mới đeo, khó chịu, như ngựa đeo hàm thiếc. Tối tối, trước khi đi ngủ, phải bỏ ra ngâm nước cho đỡ kệnh mồm. Nhưng theo kinh nghiệm của nhiều người già đã đeo răng giả, mình cần phải kiên trì, cố gắng đeo nó cả ngày, đêm – lúc đầu tuy khó chịu – sau quen dần, nếu mỗi tối bỏ ra, chất nhựa sẽ co dãn lại, đến một ngày nào đó, đeo không vừa nữa, phải làm bộ mới.

Có thể nói, cứ 1, 2 ngày, thì Doãn Quốc Sỹ và tôi lại rủ nhau đi thăm bè bạn. Doãn Quốc Sỹ cho rằng, CS đã cho chúng tôi chất xi-măng đặc biệt, để gắn chặt tình nghĩa bạn bè, chứ trứơc ngày 30-4-1975, mấy khi anh em gặp nhau.

Chúng tôi đạp xe đến thăm Hiếu Chân, nhà ở gần Nhà Thờ Ba Chuông. Thấy chúng tôi đến, Hiếu Chân mời lên lầu, hút thuốc , uống trà. Bỗng Hiếu Chân vỗ đùi, nói:

“… Tôi bảo cháu đi mua rượu ổi mới các ông uống. Rượu này lạ lắm, do một công chức về vườn, chế ra [ bán*] để kiêm sống!”.

Nói xong, Hiếu Chân sai người con gái, cũng là giáo sư, đi mua rượu. Chừng 15 phút sau, có rượu, đựng trong chai lade lớn – thế lả 3 đứa khà khà:

” Cái số tôi không bị tù, các ông ạ! Qua bao nhiêu thăng trầm, biến cố cho tôi – thời CS hôm nay – tôi vẫn sống phây phây. Phải tin, có số thật!”

Khi nói câu đó, chắc Hiếu Chân không ngờ, vài năm sau, CS tóm anh vào nhà tù Phan Đăng Lưu, rồi [anh] chết rục xương trong đó. Đó cũng là tới số!

Sau khi hết rượu, tôi và Doãn Quốc Sỹ ra về, xuống cầu thang, qua nhà dưới, gặp chị Hiếu Chân đang sửa soạn hàng bán buổi chiều. Chị chuyên bán chả giò chiên nóng và vài món nhậu khác.

Vào một buổi trưa, Thế Phong đến thăm tôi, trông gầy và già đi nhiều – nhưng vẫn còn khỏe mạnh, gân guốc. Thế Phong nhìn tôi, cười cười:
“ Ông giỏi thật ! bị giam từng ấy năm mà không chết! Tôi cứ tưởng với cái tuổi ông, chỉ 1, 2 năm cải tạo là tiêu!”

Nói xong, Thế Phong móc túi áo lôi ra 2 điếu thuốc 3 số 5 có đầu lọc, đưa cho tôi 1 điếu; còn 1, anh ngậm, vào môi, bật lửa châm. Điếu thuốc lá đối với tôi không có nghĩa gì, vì tôi ghiền thuốc lào. Một khi đã bén mùi thuốc lào, chẳng còn loọi thuốc nào ngon bằng nó cả – nhưng đây – do lòng quý mến nhau, mỗi điếu thuốc giá 5 đồng (1981), chứ có rẻ đâu; do vậy, tôi cảm động vô cùng!

Tôi hút rồi thả khói lên trần nhà, xong, tôi hỏi về đời sống của Thế Phong. Anh cho biết bị đuổi nhà khỏi Cư xá Không quân, hiện đang làm chân bán vé xe buýt [đúng, phài là: lơ xe thứ thiệt, vỗ thùng, khuân vácđồ đạc, tuyến Thủ Đức – Saigon*] bên Gia Định. Anh em nói chuyện đến gần tối, Thế Phong mới về – nhưng chỉ gặp nhau lần đó thôi – cho tới ngày tôi đi, không hề gặp lại.

Nhà thơ Phổ Đức cũng đến mừng tôi được tha. Phổ Đức cho biêt, có một sạp bán sách, báo cũ… Đời sống rất bấp bênh, chưa biết cái sạp ấy, cũng như dãy phố bán sách cũ ấy bị CA hốt đi ngày nào? Phổ Đức lộ vẻ chán nản đến cùng cực.

Thơ Phổ Đức cũng hay lắm!, dáng người anh nhỏ bé, trông chập chạp, tôi không hiểu làm sao anh sống nổi – trong một xã hôi chụp giựt – lưu manh của saigon đã hoàn toàn đổi khác, dưới sự cai trị của CS.

Nhà văn Dương Nghiễm Mậu cũng đến thăm tôi. Dương Nghiễm Mậu trông vẫn vậy, với nụ cười tinh quái. Mậu nói:
“… May quá, hôm nay ông anh có nhà! Đạp xe hộc máu từ nhà đến, ông anh thủ ở trên lầu, ở dưới nhà, bà chị bảo, đi vắng! [DNMậu klhông thể đi được một thứ xe gì, kể cả xe đạp, anh thường đi bộ, hoặc xe búyt, tay cầm ô (trước giải phóng)*]. Buồn quá ông anh ơi! Vì quý nhau, đến tìm ông anh, nên để anh em mình gặp một vài phút cho vui thôi mà, mất mát gì đâu? Có ai làm ăng-ten đâu mà ông anh sợ ?

Tôi cười, cải chính:
“Tôi đi vắng thật, chứ ai mà nỡ phụ lòng anh em quý mình. Không tin, cậu đi hỏi Doãn Quốc Sỹ xem, ngày nào chúng tôi chẳng đạp xe rong chơi?

Dương Nghiễm Mậu không còn viết văn nữa, lúc này làm nghề sơn mài, trong một tổ hợp để kiếm cơm. Dương Nghiễm Mậu có biết sơn mài là gì đâu, nhưng hoàn cảnh đã buộc Mậu phải làm, dù không thích!

Bất ngờ một sáng, Thái ThanhTâm Vấn lại thăm. Tôi coi hai nàng ca sĩ này như 2 cô em gái. Thái Thanh không son phấn, còn Tâm Vấn trang điểm như bó hoa. Thái Thanh nói dí dỏm, còn Tâm Vấn nói lanh chanh, như sợ, nếu ngưng, người khác sẽ nói mất. Tôi hỏi về cuộc tình với Thanh Nghị ra sao?

“Bỏ lâu rồi, anh chưa biết sao? Cái thứ theo voi hít bã mía coi như hỏng!”
Tôi cười, hỏi đùa :
“Cô chê làm bà thứ trưởng à?”
“Chê lâu rồi anh ơi, chứ đâu phải bây giờ?”

Hồi ở trong Trại cải tạo, tôi có đọc vài đoạn trong bài: ‘Tôi sống với người CS’ của Thanh Nghị. Tôi thấy bài viết bợ đít CS Hànội quá, chán, không thèm đọc tiếp. Tôi cũng biết Tâm Vấn cũng đang nuôi người chồng thứ nhì trong tù – đại úy – bác sĩ thuộc ngành KQ đến năm 1981, vẫn chưa được tha. Khoảng thời gian này, nhiềutu-bíp (bác sĩ) được phóng thích… Chắc lại vướng cái tội bất khuất đây!

Văn ThanhLê Ngộ Châu là chỗ thân thiết, nên gặp nhau luôn. Khi mới được tha về, Lê Ngộ Châu bảo tôi phải đi chụp gấp tấm ảnh làm kỷ niệm; kẻo sau này:”… nhờ dinh dưỡng, cậu khác đi, làm sao có được cái hình hài này?”. Tôi nghe xong, hôm sau đến tiệm chụp hình, chụp 1 tấm. Mấy bữa sau, khi nhìn mình qua tấm ảnh, chính tôi cũng không nhận ra! Sao tiều tụy như vậy được? Anh chị Châu làm bữa cơm thịnh soạn mời tôi, gọi là bữa cơm ‘mừng người về từ cõi chết‘.

Một bữa, nhận được tin Thanh Tâm Tuyền được tha, qua Doãn Quốc Sỹ, chúng tôi rủ nhau tới thăm – có cả Thái Thanh.

Sáng sớm, tôi và Doãn Quốc Sỹ đã có mặt ở nhà Thái Thanh, ở gần chợ Thái Bình. Sau khi trèo chiếc cầu thang dốc ngược, tôi thấy Thái Thanh đang chải đầu. Xung quanh nhà toàn chậu hoa, tôi biết Thái Thanh mê cây cảnh. Sợ mất xe đạp, tôi và Doãn Quốc Sỹ xuống thang, chờ Thái Thanh ở dưới chân cầu thang. Chừng 15 phút sau, Thái Thanh khoan thai, tay xách cây dù nhỏ đi xuống. Tôi và Doãn Quốc Sỹ đều ghếch chân lên bàn đạp sẵn sàng. Doãn Quốc Sỹ mời Thái Thanh ngồi vào chiếc pọoc-baga để anh [ta* ] đèo- nhưng Thái Thanh nói:

“Em nặng quá, anh đèo gì nổi, từ đây lên nhà anh Thanh Tâm Tuyền bên Gia Định xa lắm!”

Nói xong, Thái Thanh đi ra phía lộ, kêu xích lô. Sau khi ngã giá, Thái Thanh bước lên xích lô ngồi, trông dáng điệu lắm! Tôi và Doãn Quốc Sỹ như 2 vệ sĩ già, đạp xe lẽo đẽo theo sau. Khi xe leo khỏi con dốc cầu kiệu, tôi mệt muốn đứt hơi, rồi qua Lăng Tả Quân, gặp Tòa tỉnh trưởng Gia Định cũ – chúng tôi quẹo trái, rồi quẹo mặt (qua trung học Hồ Ngọc Cẩn một đoạn khá dài ) chúng tôi nhìn thấy Thanh Tâm Tuyền đang đứng chờ ở ven đường.

Doãn Quốc sỹ đã hẹn trước với Thanh Tâm Tuyền rồi. Lúc ấy đã gần 9 giờ sáng. Thấy đói, tôi mời tất cả vào một quán cóc bên lề đường ăn sáng, uống cà phê. Ăn uống xong, Thanh Tâm Tuyền đưa chúng tôi vào nhà bằng lối đi ngoằn ngoèo, nhỏ hẹp dần dần. Căn nhà trệt xinh xắn, có hàng ba sơn màu xanh, có cả giàn hoa giấy màu tím hồng, trông rất nên thơ.

Vào trong nhà, ngoài chiếc bàn nhỏ, trên mặt bàn để sẵn đĩa bánh bích-quy loại bình dân và ấm nước trà. Cách đấy, một khoảng, có mắc chiếc võng. Ở cuối nhà kê chiếc phản gỗ. Chị Tuyền, người miền Nam, trông hãy còn duyên dáng lắm, ra chào; rồi xin phép phải đi có chút việc.

Thế là chỉ có chúng tôi, nói chuyện tù mãi cũng chán. Thái Thanh lấy cây đànguitare treo trên vách xuống, so lại dây, rồi hát những ca khúc Phạm Duy, Cung Tiến.

Thoạt đầu, tiếng hát còn nhỏ; sau, như không trấn áp nổi sự hào hứng, Thái Thanh hát thật mạnh, thật to. Tiếng hát âm vang, rồi thoát đi, qua khung cửa sổ, qua chiếc cửa ra vào không khép, nên chỉ 1 thoáng sau – một rừng người đứng lố nhố che kín cà khoảng rộng – để nghe tiếng hát Thái Thanh.

Chúng tôi vui chơi đến trưa mới ra về. Thanh Tâm Tuyền lai đưa tiễn ra tận lề đường. Chờ cho Thái Thanh kiếm được chiếc xích lô, lúc ấy, tôi và Doãn Quốc Sỹ mới đạp xe chạy theo. Lần về, khi đến Đa Kao, tôi quẹo ngả khác, đến thăm 1 người bạn- chỉ còn Doãn Quốc Sỹ đưa Thái Thanh về nhà.

Tuần lễ sau, Thanh Tâm Tuyền đạp xe đến thăm tôi. Anh cho biết, đây là lần thứ 3 mới gặp [được*]. Tôi cười xề xề:
“Ông ơi, đạp xe coi như tập thể dục vậy mà!”

Nói vậy, chứ trời nắng như thiêu, đạp như vậy, kể như yêu mến anh em lắm, mới có can đảm đạp xe tới lần thứ 3.

Hai vợ chồng Thế Uyên cũng đến thăm tôi vào một buổi sáng. Sau những lời chúc mừng, Thế Uyên còn dặn tôi những gì nên làm, những gì không nên, dưới chế độ… này. Vì có sự may mắn đặc biệt, Thế Uyên mới được tha sớm; nhưng, tuy được tha, đời sống cũng cực nhọc lắm.

Một buổi, tôi đến chơi đáp lễ vợ chồng Thế Uyên trong Cư xá sĩ quan Chí Hòa, tôi thấy 1 chiếc tủ con đựng những bao thuốc lá, đó là nguồn sinh sống của cả gia đình Thế Uyên: 1 vợ, 4 con, đang tuổi ăn, tuổi lớn.

Nhà phê bình [văn học*]Thượng Sỹ, lúc này ở bến Chương Dương, nên thỉnh thoảng mới ghé thăm – hơn nữa – mắt anh quá kém, đi đâu phải dò từng bước; nếu không muốn gây ra tai nạn. Còn bác sĩ Tín , dưới bút hiệuThu Hippy, thường viết phiếm luận trên báo Chính luận khi xưa, có lại thăm. Anh được tha trước tôi chừng 2 năm. Khi cùng tù với nhau ở Suối Máu, anh mê thơ tôi lắm, có bài nào, anh đều chép lại; do đó, khi được tha, anh mang theo về, đưa cho người bạn thân tôi cất giữ. Cũng có 1 số bài thơ đó, nên mới có tập MÂY BAY, do thi sĩ Bội Diệp ở Tampa (Florida) thực hiện giùm vào 1987. Cuốn thơ này không bán, chỉ dành t riêng tặng bằng hữu.

Một hôm, có người còn trẻ tuổi, tôi không biết [là*] ai, cầm tấm danh thiếp của Văn Cao, viết cho tôi, vài lời giới thiệu:
” Đây là anh X. đã tốt nghiệp khoa thẩm mỹ học tại Hung Gia Lợi (Hunggari), muốn được xem tranh của anh, mong cậu vui lòng tiếp. Nhớ mày lắm, hôn mày ! “

Chỉ có mấy dòng, Văn Cao đã dùng 3 loại đại-danh-từ, để gọi tôi – lúc đâu là anh, rồi cậu, sau là mày! Tôi nhìn nét chữ quen thuộc của Văn Cao, tự nhiên trong lòng dâng lên nỗi nhớ lạ lùng! Anh bạn trẻ đó, ngồi cả nửa ngày để xem tranh và ghi chép vào sổ tay, những gì tôi không biết, mà cũng chẳng biết làm chi!.

Khi tôi đang ở trong tù,Bùi Xuân Phái, bạn thân, có đến nhà xem tranh. Bùi Xuân Phái nói với vợ tôi: thích lắm, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, không ai dám vẽ như thế này!

Còn người nữa, cũng hay xin phép vợ tôi, đến xem tranh – đó là họa sĩLưu Công Nhân – một tên CS đã theo VC chiếm Saigon vào 30- 4- 1975.

Văn Thanh nói với tôi, tên Lưu Công nhân hách lằm, coi họa sĩ miền Nam chả ra gì – vì nó – kẻ chiến thắng! Thế nhưng, khi gặp tôi, Lưu Công Nhân, rất lễ phép, không dám nói câu gì, hoặc tỏ thái độ kẻ chiến thắng. Hắn còn hỏi tôi, có cần con dấu với ngôi sao không, hắn sẽ giúp – tức là xin cấp cho tôi mộtChứng minh thư. Nhưng tôi cương quyết từ chối và cho hắn biết, nếu có tội, nhà nước cứ việc bắt, còn vô tội, chắc chẳng ai làm gì tôi cả. Nghe vậy, từ đó về sau, mỗi lần gặp, không bao giờ hắn đả động tới vấn đề này [nữa].

(*lược bỏ trên 20 dòng)

Một buổi đến thăm Lê Ngộ Châu, vào đến trong nhà, tôi nhìn thấy một ông già rất đẹp lão, tóc râu trắng xóa, nhất là bộ râu để dài, trông rất tiên phong đạo cốt. Châu giới thiệu:
“Đây học già Đào Duy Anh, còn đây, anh Tạ Tỵ.”
Ông Đào Duy Anh sững mắt ngó tôi một lúc, rồi đưa tay ra bắt:
“Ồ, ông Tạ Tỵ. Nhìn ảnh, đẹp hơn người thực nhiều!”
Tôi hỏi :
“Cụ nhìn ảnh tôi ở đâu?”
Ông cho biết, Lê Ngộ Châu cho xem, rồi tiếp:
“Ở ngoài Bắc, người ta đồn ông là CIA và bảo tôi, vào Nam chớ có tiếp xúc với ông mà mang họa!”
Sững sờ vì câu nói đó, muốn biết rõ, tôi hỏi :
“Ai nói như vậy?”
Đào Duy Anh, cho biết, người nói là họaNguyễn Đỗ Cung. Điều này, có thể lắm, vì tôi và Nguyễn Đỗ Cung có xích mích từ hồi tiền-kháng-chiến, do 1 sự hiểu lầm. Tôi không ngờ Nguyễn Đỗ Cung lại thù dai như vậy.

Nhưng bây giờ, Nguyễn Đỗ Cung đã mất, tôi không muốn nói điều gì nữa!

Nhưng Lê Ngộ Châu đã thanh minh giùm tội, tôi làm việc tại Cục Tâm lý chiến, thuộc Tổng cục chiến tranh chính trị; chứ không phải sĩ quan CIA đâu, ở ngoài Bắc hiểu lầm đó.

Rồi câu chuyện loanh quanh, cũng rẽ sang ngả khác, chỉ biết học giả Đào Duy Anh mê và phục miền Nam lắm – nhất là, khen con gái miền Nam đẹp hơn con gái miền Bắc nhiều.
Lê Ngộ Châu nói nửa đùa, nửa thật:
“Nếu cụ muốn tìm hiểu gái miền Nam, bữa nào tôi dẫn cụ đi cho biết”.

(*lược bỏ trên 9 dòng)

Trong số các bạn tôi ở ngoài Bắc vào thăm, trừ Bùi Xuân PháiVăn Cao – tôi không gặp [được*] họ khi vô nam – vì tôi đang còn ở trong trại cải tạo.

Riêng Hoàng Lập Ngôn, Lê Quốc Lộc, tôi có gặp đôi ba lần. Hoàng Lập Ngôn năm đó (1981) đã ngoài 70 tuổi, nhưng dáng điệu vẫn còn nhanh nhẹn, cách ăn nói vẫn tếu như thuở còn trẻ. Chúng tôi uống rượu ở ngoài bao-lơn, nói chuyện tâm tình. Hoàng Lập Ngôn mang vào cuốn băng thơ của Hoàng Cầm, mở máy cho tôi nghe giọng ngâm của một thi sĩ tôi hằng quý mến. Giọng ngâm của Hoàng Cầm vẫn hay, nhưng thơ của Hoàng Cầm không còn hay nữa. Chất thơ đã khô cứng, chứ không còn tươi mát, như các bài Đêm liên hoan, Bên kia sông Đuống.
(*lược bỏ trên 30 dòng)

CònLê Quốc Lộc, mỗi lần vô Nam công tác, lại đến tìm tôi. Lộc đứng đắn, đàng hoàng hơn Hoàng Lập Ngôn về phương diện tình ái. Lê Quốc Lộc đã gần 30 tuổi Đảng, nhiều như vậy và có chức vụ lớn tại Hànội – nhưng đối với tôi – Lộc vẫn đối xử như lúc còn học chung trường và cùng đi vẽ với nhau nhiều lần, ở những nơi thuộc miền Bắc. Gặp Lê Quốc Lộc, tôi chửi CS, chửi chế độ nhà tù đối với những người thua trận. Tôi chửi thẳng cánh, không tiếc lời, nhưng Lộc chỉ cười, nói:
“Đã coi nhau như kẻ thù, còn gì để phân trần? Bây giờ, ngược lại, miền Nam thắng miền Bắc – cậu có chắc miền Nam đối xử nhân đạo với các đảng viên CS như tôi không? Nhưng thôi, chúng ta là bạn, chỉ nên nói về tình bạn là đủ.”

Lê Quốc Lộc lấy trong chiếc cặp da một bức vẽ chì, trao cho tôi. Đó là bức vẽ của tôi thời còn đi học, Lộc giữ làm kỷ niệm, nay gặp lại – Lộc đưa tôi, nhìn lại nét vẽ của mình. Tôi vô cùng cảm động, cảm ơn Lộc, đã có công gìn giữ nó cả mấy chục năm trời – qua 9 năm kháng chiến, nó vẫn còn nằm trong ba-lô theo Lộc, qua bao nhiêu gian truant trên các đường gian khổ. Tôi nhìn, tự ngượng, vì không ngờ mình vẽ yếu như vậy – nhưng chợt nghĩ lại – nếu không có nó, đâu có mình ngày hôm nay.

Lê Quốc Lộc thích những bức tranh trừu tượng của tôi lắm. Anh muốn xin tôi một bức sơn dầu vẽ toàn màu xanh – không hiểu sao – lúc ấy tôi từ chối, có lẽ, cái mối thù còn sôi sục trong lòng.

Giá lúc này, Lê Quốc Lộc còn sống, xin tôi, chắc tôi tặng ngay. Nhưng Lê Quốc Lộc không còn nữa, và tôi cũng ở xa Việtnam quá nửa vòng trái đất; tất cả tác phẩm của tôi còn có mặt tại Việtnam đã trở thành vô dụng!.

Còn Nguyễn Sáng vô Nam, đi xe hơi tới nhà tôi, nhưng không gặp. Lần sau, Sáng nhờ người đèo xe đạp đến thăm. Tôi mời Sáng ở lại ăn cơm. Nguyễn Sáng đã già nhiều, tóc rụng gần hết; nên phải đội mũ bê-rê trên đầu. Nguyễn Sáng sống cũng khổ lắm, tuy là giáo sư dạy ở Mỹ thuật Hà nội.

Lê Quốc Lộc có nói cho tôi biết, Nguyễn Sáng lấy cô học trò làm vợ, nhưng tính Sáng vốn nóng nảy, đánh đập vợ tàn bạo nhiều lần, cô này tuy quý tài vẽ Nguyễn Sáng, cũng đành phải bỏ trốn! Điều này, trong suốt buổi trò chuyện thân tình, Sáng không hề nói tới.

Thấy vợ tôi làm cơm có nhiều món ăn quá, Sáng cho biết, mỗi tháng Sáng chỉ có quyền mua 100 gr thịt kho mặn, ăn trong một tuần – còn những ngày khác, chỉ ăn rau luộc chấm muối.

Nguyễn Sáng uống rượu nhiều lắm và ăn cũng khỏe. Bao nhiêu thức ăn bầy trên bàn, chỉ có Sáng và người bạn đèo sáng ăn hết, không còn lại chút gì. Khi no bụng, Nguyễn Sáng nói:

Tôi đi xe hơi đến thăm cậu lấy le, nhưng cậu đi vắng, uổng quá – xe mượn của cơ quan có một lần thôi – mượn hoài đâu được?!”

Sáng đòi xem tranh. báo hại, bao nhiêu tranh của tôi đã bọc kỹ, định đem đi gửi để vượt biên, lại phải mở ra cho Nguyễn Sáng xem. Sáng thích lắm, nói, tranh của tôi hiện đại quá, Hànội không có, nếu có, cũng phải chờ cả chục năm nữa!…

(*lược bỏ trên 10 dòng)

Phan Tại đến chơi, đi cùng với nhà viết kịch Hoàng Như Mai(1918 – …) , tác giả vở kịch Tiếng trống Hà Hồi. (….) Hoàng Như Mai có đứa con trai cũng làm thơ và rất mê hội họa. Do đó, Mai nói với tôi, cho phép con anh đến xem tranh; vì nó nghe đồn, tranh của tôi lạ lắm. Hoàng Như Mai, con người rất khiêm nhường, tình nghĩa anh em vẫn vậy. Anh cho biết, đã đọc nhiều sách của miền Nam, trong đó có cả sách của tôi và cho biết, dưới mỗi chế độ, văn học nghệ thuật đều có nét đặc thù, có cái hay riêng; người ta không thể đánh giá nó qua lập trường phía kẻ chiến thắng! Chính trị, nhất là qua cái nhìn của kẻ chiến thắng!.

Trước khi ra về, Phan Tại xin tôi mấy cây bút, để tặng con [của] Hoàng Như Mai; vì Phan Tại cho rằng, tôi không còn cơ hội nào để vẽ nữa, khi đã sống dưới chế độ vô sản chuyên chính.

Vì lịch sự, tôi có đến thăm Hoàng Như Mai một lần, thấy anh mặc áo chiếc áo bộ đội còn tốt, trong đầu tôi nẩy ra ý kiến, xin cái áo ấy dể ngụy trang trên đường vượt biên. Vì không đoán được ý nghĩ của tôi, anh vui lòng đi vào nhà tắm, thay áo, tặng tôi làm kỷ niệm. Chiếc áo của Hoàng Như Mai đã theo tôi đếnPilau Bidong mới được vứt bỏ

(*lược bỏ trên 104 dòng)

Vào một buổi sáng, giữa năm 1981, tôi cùng Văn Thanh đến tòa soạn Bách Khoa cũ, để uống cà phê, như đã hẹn nhau từ trước. Tòa soạn lúc này không còn vui vẻ như trước, tuy đồ đạc bàn ghế vẫn y nguyên. Trước cửa tòa soạn, bây giờ có vài quán bán cà phê và thuốc lá lẻ. Những chiếc bàn nhỏ cùng nhiều chiếc ghế thấp đóng bằng thùng sữa, lúc nào cũng đông đảo thanh niên ngồi uống, hút thuốc, thì thầm tâm sự. Đã từ lâu, tuần lễ nào cũng vậy, cứ mỗi sáng thứ sáu, 3 đứa gặp nhau ở đây, để nói đủ chuyện đến trưa mới về.

Chúng tôi luân phiên trả tiền cà phê, do vậy, không ai phiền ai cả; vì lúc này, mọi người đều chẳng dư dả. Khi chúng tôi uống gần xong, bỗng có tiếng gõ cửa, Lê Ngộ Châu lật đật chạy ra mở. Tưởng ai, hóa raNguyễn Mộng Giác. Từ ngày được tha, tôi đến đây nhiều lần, nhưng đây là lần đầu gặp lại Nguyễn Mộng Giác.

(*lược bỏ trên 8 dòng)

Nguyễn Mộng Giác người miền Trung , dáng người nho nhã, tầm thước, hình như cùng quê với Võ Phiến. Trường hợp Nguyễn Mộng Giác cũng giống như nhà văn Nguyễn Hiến Lê, thoạt đầu, tưởng CS có chiếc đũa thần, biến Việtnam thành một quốc gia lý tưởng.

(*lược bỏ trên 10 dòng)

Quanh quẩn lại gần Tết. Như dự định, tôi sẽ vượt biên vào đúng dịp Tết 1082. Do vậy, tôi có ngỏ ý với Doãn Quốc Sỹ, xem anh có dám đi không? Doãn Quốc Sỹ cho biết, sẽ đi Úc châu, do sự bảo lãnh của con anh ở bên đó, nên chuyện vượt biên không cần thiết, hơn nữa rất nguy hiểm! Tôi cũng rủ thêm 1, 2 người thân nữa; nhưng họ đều từ chối, như vậy chỉ có gia đình tôi vượt thôi.

(*lược bỏ trên 23 dòng)

Nhưng Tết năm đó, vì trở ngại, tôi không ra đi đúng dự tính – tuy vợ chồng tôi đã có mặt ở điểm hẹn Bạc Liêu đúng ngày, giờ. Sau 2 hôm nằm khách sạn chờ đợi, sợ lộ, phải quay về Saigon tức khắc. Chờ gần nửa năm sau, mới đi được.

Con tàu vượt biên ra khơi ngày 12 – 6- 1982, đúng ngày 19-6-1982 được tàu dầu Anh quốc vớt, đưa vào Pliau Bidong. Từ đó, bắt đầu cuộc đời lưu vong, chưa biết đến bao giờ?

Để thay lời kết cho thiên hồi ký, tôi xin chép lại bài thơ – đã làm cách đây ngoài 20 năm – nhưng vẫn thích hợp vơi nội dung cuốn sách.

CẢM ƠN

Xin cảm ơn. Mẹ hiền cho hơi thở
Với bao nhiêu chăm bón thưở sơ sinh
Tiếng khóc vào đời âm vang trí nhớ
Rồi lớn khôn theo sữa ngọt ân tình

Xin cảm ơn. Cha đã cho nghĩa sống
Bằng mồ hôi, nước mắt những đêm dài
Cắn trái đắng vẫn nghe lòng mở rộng
Dựng thịt xương, con chào đón tương lai.

Xin cảm ơn, bông lúa nào chĩu hạt
Đã cho tôi sức mạnh của đời trai
Từng buổi một, chân đi vào bóng mát
Chiều quê hương, núi ngất nối sông dài

Xin cảm ơn, cuộc đời tôi có một
Để làm phiền một khoảng trống cô đơn
Gây tội lỗi với điệu buồn héo hắt
Cứ đùa vui như chẳng biết giận hờn

Xin cảm ơn nguồn vui và tuổi trẻ
Níu vòng tay ôm ấp mộng đôi mươi
Đường muôn lối với nhánh hồn chia rẽ
Tình khoan dung qua mấy nét môi cười

Xin cảm ơn, những buồn vui còn đấy
Dù chuyện đời cứ lặng lẽ trôi đi
Khi nhắm mắt chẳng một lần thức dậy
Vùi tiếc thương dưới mái cỏ xanh rì

Xin cảm ơn bạn bè cùng tham dự
Cơn mê cuồng trôi nổi tuổi hoa niên
Ân oán cũ, hãy trở về quá khứ
Cho tâm tư vơi nhẹ nỗi ưu phiền

Xin cảm ơn bao đắng cay thất vọng
Theo tháng ngày chất nặng tuổi thời gian
Còn chi nữa mà hoài công trông ngóng
Chớm sang thu, nghe lá đổ muôn vàn

Xin cảm ơn, những anh hùng thế hệ
Chiến trường xa gục ngã với hiên ngang
Máu đổ xuống khi tuổi đời chưa xế
Thực phẩm vàng để nuôi sống Việtnam

Xin cảm ơn, xin cảm ơn tất cả
Thân phận này bèo bọt nghĩa gì đâu
Mùa xuân đến với màu hoa sắc lá
Dìm tâm tư trong đáy thẳm nguyện cầu !

TT

(Khởi viết 1- 2- 1989- viết xong 31-8- 1989 tại thành phố Garden, Clifornia – nhà vănĐiền Tuấn thực hiệncomputer xong ngày 1- 10- 1989 tại San José , California)
* Tựa tác giả đặt: NHỮNG KHUÔN MẶT VĂN NGHỆ TRONG SAIGON ĐỎ.
[*] – chữ của Biên tập.

Nguồn: ThePhongblog

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s